Viếng mộ Nguyễn Hàm Ninh mùa xuân: Khám phá di sản danh nhân

27

Bài báo giới thiệu danh nhân Nguyễn Hàm Ninh (1808-1867), một người tài hoa xuất chúng nhưng có hoạn lộ đầy gian truân và thăng giáng thất thường. Dù sớm đỗ Giải nguyên và từng giữ nhiều chức vụ quan trọng, ông liên tục gặp sóng gió, bị bãi chức và thậm chí từng bị bắt giữ bởi người Pháp. Sau khi từ quan ở tuổi 40 vì bệnh, ông sống 20 năm cuối đời một cách thanh bạch tại quê nhà, làm ruộng, bốc thuốc chữa bệnh và dạy học. Nguyễn Hàm Ninh nổi tiếng với tài năng thi ca, với các tác phẩm như "Tĩnh Trai tiểu thảo", thể hiện tấm lòng ưu quốc ái dân sâu sắc, và được giới thi sĩ đương thời xếp vào "Tràng An tứ kiệt".

(QBĐT) – Chiêm ngưỡng cuốn gia phả đã hoen màu thời gian, với nét chữ thư pháp sắc sảo, phóng khoáng, ta càng thấu hiểu tài năng, cốt cách và bản lĩnh của danh nhân Nguyễn Hàm Ninh.
 
Trong tiết trời mưa xuân lất phất, tôi hành hương viếng mộ Nguyễn Hàm Ninh đang yên nghỉ tại thôn Vân Tiền, đầu tựa vào đỉnh Nhâm Sơn, dưới chân là hồ Vân Tiền, thuộc xã Quảng Lưu (Quảng Trạch).
 
Tại tư gia, ông Nguyễn Văn Linh, hậu duệ đời thứ 13 của dòng tộc họ Nguyễn, đã trân trọng giới thiệu cho tôi xem tập “Nguyễn gia thế phả” – bộ gia phả quý báu được gia tộc gìn giữ qua bao thế hệ như một báu vật vô giá.
Lăng mộ Nguyễn Hàm Ninh.
Lăng mộ danh nhân Nguyễn Hàm Ninh.
Cuốn gia phả được hoàn thành vào ngày 26 tháng 5 năm Tự Đức thứ 6 (1852), đến nay đã ngót 173 năm. Dòng tộc họ Nguyễn của danh nhân Nguyễn Hàm Ninh có cội nguồn từ làng Phù Kinh, nay thuộc xã Phù Cảnh (Quảng Trạch). Sau đó, gia đình ông dời về sinh sống tại làng Trung Ái, sau đổi tên thành Trung Thuần, tổng Thuận Phong, huyện Bình Chính, nay là thôn Vân Tiền. Ông Linh chia sẻ, theo lời kể của ông nội, thuở xưa, cội nguồn dòng họ Nguyễn của ông ở làng Phù Kinh, nơi đất đai cằn cỗi “chưa nắng đã khô, chưa mưa đã lụt”. Khi đến vùng đất Trung Ái, nhận thấy điều kiện nơi đây tương đối thuận lợi, khí hậu ôn hòa, đất đai màu mỡ, dân cư hiếu học, nên tổ tiên của ông là Nguyễn Đăng Khoa, đời thứ tư, người đỗ tú tài thời Lê, đã quyết định chuyển về đây sinh sống để tiện bề làm ăn và tạo điều kiện học hành cho con cháu.
 
Nguyễn Hàm Ninh là hậu duệ đời thứ 8, sinh ngày 11/2/1808, tên tự Thuận Chi, hiệu Tĩnh Trai. Ông chào đời trong một gia đình nông dân nghèo, là con trai cả trong số 5 anh em (3 trai, 2 gái). Ngay từ thuở thiếu thời, Nguyễn Hàm Ninh đã bộc lộ tư chất thông minh, tài hoa xuất chúng, cùng tính cách phóng khoáng, nho nhã nên được mọi người quý mến. Năm 21 tuổi, ông thi đỗ tú tài. Ba năm sau, tại khoa thi Tân Mão (1831), ông dự thi và đỗ Giải nguyên trường Thừa Thiên. Sau đó, ông được bổ nhiệm làm Tri huyện Lục Ngạn, một huyện miền núi thuộc phủ Lạng Giang, nay thuộc tỉnh Bắc Giang.
 
Năm 1833, thân phụ qua đời, ông xin về quê chịu tang. Đến năm 1836, sau khi mãn tang cha, ông được triệu về kinh đô Phú Xuân giữ chức Quốc học độc thư. Tiếp đó, ông được bổ dụng làm Chủ sự phủ Tôn Nhân. Cũng trong giai đoạn này, ông vinh dự được thường xuyên lui tới cung Tiềm Để để giảng dạy cho Thái tử Nguyễn Phúc Miên Tông, người sau này trở thành vua Thiệu Trị. Tuy nhiên, đến năm 1840, do sơ suất mắc lỗi, ông bị vua Minh Mạng bãi chức và cho về quê sinh sống.
 
Tháng giêng năm Tân Sửu, niên hiệu Thiệu Trị năm thứ nhất (1841), khi đang giữ chức Kiểm thảo, ông được sung nhiệm. Sách Đại Nam thực lục ghi chép “Cho Nguyễn Hàm Ninh làm Kiểm thảo sung chức Hành tẩu ở Nội các”(1). Mùa đông năm 1845, Nguyễn Hàm Ninh được điều chuyển ra Bắc giữ chức Phó lang. Đến tháng 5 âm lịch năm Thiệu Trị thứ 6 (1846), ông được thăng chức “Viên ngoại lang ty Cẩn tín là Nguyễn Hàm Ninh thăng quyền Lang trung bộ Lại” (2). Cũng trong tháng 5 nhuận, ông tiếp tục được thăng chức “Quyền Lang trung bộ Lại là Nguyễn Hàm Ninh điệu bổ quyền Lang trung bộ Lễ” (3).
Trang đầu cuốn gia phả “Nguyễn gia thế phả” do Nguyễn Hàm Ninh chấp bút.
Trang đầu bộ “Nguyễn gia thế phả” do Nguyễn Hàm Ninh chấp bút.
Đến tháng 9 cùng năm, ông lại được bổ nhiệm trọng trách mới “Quyền lang trung bộ Lễ là Nguyễn Hàm Ninh điệu bổ quyền Án sát Khánh Hòa; Hàm Ninh, Xuân Bảng đều ở lại Kinh, sung làm Khâm điểm viên của bản đạo” (4).
 
Song, niềm vui chẳng kéo dài bao lâu thì ông lại đối mặt với sóng gió lớn. Tháng giêng năm Thiệu Trị thứ 7 (1847), khi đang giữ chức Án sát tỉnh Khánh Hòa, do quá tin người, ông đã xuống thuyền của người Pháp và bị bắt giam, tra khảo, đòi tiền chuộc. Ông đã quyết định lao mình xuống biển tuẫn tiết, nhưng may mắn được cứu sống. Sau 10 ngày bị bắt giữ, khi thuyền Pháp không đạt được yêu sách, họ đành thả ông về. Sự việc đến tai Hoàng đế, ông bị bắt đưa về kinh, giao Bộ Hình xét xử. “Thự án sát tỉnh Khánh Hòa là Nguyễn Hàm Ninh có tội bị mất chức… Đến khi án dâng lên, Ninh và Vũ Thành, Hoàng Minh đều bị cách chức, phát vãng đến 2 thành Điện Hải, An Hải sung làm quân” (5).
 
Tháng 7 cùng năm, ông được phục hồi chức vụ Hàn lâm viện trước tác, làm biên tập trong Sở tu thư, nhưng không lâu sau lại mắc sai phạm và bị khiển trách. Mùa thu năm Mậu Thân, niên hiệu Tự Đức năm thứ hai (1848), khi vừa tròn 40 tuổi, lâm bệnh, ông đã thỉnh cầu xin từ quan về quê an dưỡng. Điều này được chú giải trong phần nguyên chú bài “Quá hạc Sơn thành dữ Lê Hành tỉnh Từ Hậu (Thúc Đôn) thoại cựu”, tờ 22b, trong tập thơ Tĩnh Trai tiểu thảo trích sao, có đề cập đến nguyên nhân ông cáo quan “Tự Đức Mâu Thân thu. Tiểu thần bệnh quy…”, nghĩa là Mùa Thu năm Mậu Thân, niên hiệu Tự Đức, tiểu thần bị bệnh về quê. Từ khi về quê đến lúc mất, suốt 20 năm, ông sống cuộc đời thanh bạch, an bần lạc đạo, làm ruộng, hành nghề bốc thuốc chữa bệnh cứu người và mở trường dạy học để duy trì cuộc sống. Ông tạ thế năm 1867.
 
Là bậc tài năng kiệt xuất, nhưng con đường hoạn lộ của ông Nguyễn Hàm Ninh luôn đầy gian truân, sóng gió. Cứ mỗi khi thăng tiến, chỉ một thời gian ngắn ông lại không tránh khỏi vấp váp, bị bãi chức, rồi lại được phục chức. Giới sử gia đương thời đã đánh giá một cách ngắn gọn qua bộ sách Đại Nam liệt truyện, nhưng khái quát một cách tinh tế và chuẩn xác về tài năng thi ca cũng như số phận kỳ lạ của ông: “Hàm Ninh lấy văn học nổi tiếng, mà số thì lạ, hễ thăng quan là bị miễn khứ; về thơ văn thời trầm tĩnh hùng mạnh khi đè nén khi phô trương và sở trường về lối ngũ ngôn. Thương Sơn công (tức Tùng Thiện vương-NV) vẫn khen, nay có tập thơ văn gọi là “Tĩnh trai”(6).
 
Dẫu đường làm quan trắc trở, ông vẫn giữ vẹn cốt cách thanh cao, phẩm hạnh bất khuất của mình. Ông luôn giữ tấm lòng ngay chính, đức tính thanh liêm, vượt thoát vòng danh lợi phù du. Điều quý giá nhất ở ông chính là đời sống tâm hồn hết sức phong phú. Chính thi ca là lãnh địa để ông gửi gắm những tâm tư sâu kín, những nỗi niềm của bản thân. Trước tác của ông hiện còn lưu giữ không nhiều, tập trung vào Tĩnh Trai tiểu thảo trích sao, gồm 239 bài thơ (168 đề mục); tập Tĩnh Trai thi sao gồm 66 bài thơ (61 đề mục). Ngoài ra còn có 10 bài thơ chữ Hán viết theo thể thất ngôn bát cú vịnh thập cảnh vườn Thương Mậu, chép trong Danh biên tập lục, phần thơ của Nguyễn Hàm Ninh chép từ tr.18-22. Sáng tác bằng chữ Nôm hiện chỉ còn bài văn Phản phúc ước viết theo lối biền ngẫu và bài hát nói Nhớ ơn vua. Tất cả trước tác này hiện đang được lưu trữ tại Thư viện Viện nghiên cứu Hán Nôm.
 
Là người có tâm hồn khoáng đạt, nghĩa khí ngút trời, trong mỗi câu thơ của ông thấm đượm tình cảm ưu quốc ái dân sâu sắc, trăn trở khôn nguôi trước thời cuộc nhiễu nhương, đau đáu về vận mệnh quốc gia khi bị quân Pháp xâm lược. Mảng đề tài chiếm số lượng khá lớn trong sáng tác của Nguyễn Hàm Ninh chính là những bài thơ viết về tình cảm với gia đình, anh em, dòng tộc và quê hương. Dẫu “sinh bất phùng thời” và trải qua bao biến cố, ông vẫn giữ được tâm hồn thanh bạch, trong mỗi câu thơ chứa chan nỗi niềm trắc ẩn mà vẫn ánh lên niềm tin yêu đời lạc quan bất diệt.
“Liên hoa trì bạn nguyệt
Y cựu chiếu băng tâm” – Diễn Ái giao giới xứ
(Vầng trăng trên hồ sen/Vẫn soi rọi tấm lòng băng tuyết như xưa)
 
Giới thi sĩ đương thời đánh giá vô cùng trân trọng tài năng thi ca của Nguyễn Hàm Ninh. Ông được giới quan lại, học giả Kinh đô thời bấy giờ vinh danh là Tràng An tứ kiệt, bao gồm Nguyễn Hàm Ninh, Đinh Nhật Thận, Cao Bá Quát và Nguyễn Văn Siêu. Tùng Thiện vương Nguyễn Phúc Miên Thẩm (1819-1870) lại có nhận định đầy tinh tế và sâu sắc về ông: “Thở một hơi mà thành trọn vẹn, không vết đẽo gọt. Thơ Thịnh Đường sở dĩ vượt người là vậy. Ta đối với bài thơ này cũng thế”.
Nhật Linh
 
(1), (2), (3), (4), (5) Quốc sử quán triều Nguyễn, Đại Nam thực lục, NXB Hà Nội, Hà Nội, 2022, tập 6, tr.48, 861, 866, 926, 962, 936.
(6) Quốc sử quán triều Nguyễn, Đại Nam liệt truyện, NXB Thuận Hóa, Huế, 2014, tập 2, tr.494-495.