Từ bình dân đến vĩ đại: Tài năng không giới hạn

33

Bài báo khám phá định chế Trại Trạng nguyên độc đáo dưới triều Trần, đặc biệt tập trung vào Trương Xán từ Quảng Bình, được vinh danh trong "Đại Nam quốc sử diễn ca" như một tài năng xuất chúng. Mặc dù là danh nhân tiên phong cho khoa cử Quảng Bình, thông tin về ông trong các sử liệu lại rất hạn chế, sơ sài và chứa nhiều mâu thuẫn về niên đại, chức vụ, gây khó khăn cho nghiên cứu hiện đại. Chế độ Trạng nguyên Kinh và Trại được thiết lập nhằm mở rộng nguồn nhân tài từ cả vùng đất "Trại" từng bị đánh giá thấp hơn. Dù đối mặt với những định kiến ban đầu, Trương Xán cùng các Trại Trạng nguyên khác đã chứng minh tài năng xuất chúng, góp phần đặt nền móng cho truyền thống hiếu học tại quê hương và được tôn vinh xứng đáng.

(QBĐT) – Tác phẩm văn vần chữ Nôm Đại Nam quốc sử diễn ca của Ngô Lê Cát, biên soạn vào khoảng triều Tự Đức thời Nguyễn, đã khắc họa một thời kỳ khoa cử đặc biệt dưới triều Trần qua hai câu thơ: “Trạng nguyên, Bảng nhãn, Thám hoa//Kẻ Kinh, người Trại cũng là tài danh”. Đây là sự ghi nhận về sự xuất hiện của hai Trại Trạng nguyên hiếm hoi trong lịch sử khoa bảng phong kiến Việt Nam: Trương Xán (1227-?) và Bạch Liêu (1236-1315).
 
Trại Trạng nguyên Trương Xán, một danh nhân tài hoa, được xác định là vị Trạng nguyên thứ ba trong hệ thống khoa cử phong kiến nước nhà, tiếp nối sau Nguyễn Hiền (1234-1255) và Trần Quốc Lặc (1230-?). Ông cũng là người tiên phong với thành tích thi cử xuất sắc tại Quảng Bình. Tuy nhiên, các thông tin về ông trong cả chính sử quốc gia lẫn sử sách địa phương lại vô cùng hạn chế và sơ sài: “Trương Xán người xã Hoành Bồ, huyện Quảng Trạch, sau đổi là châu Bố Chính-nay thuộc xã Quảng Đông, huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình. Năm 29 tuổi đỗ Trại Trạng nguyên, khoa thi Thái học sinh, năm Bính Thìn niên hiệu Nguyên Phong thứ 6 (1256) đời Trần Thái Tông. Làm quan đến chức Thị Lang, hàm Tự Khanh (theo Các nhà khoa bảng Việt Nam)”.
 
Thêm vào đó, một số sử liệu thứ cấp và tư liệu khác còn ghi nhận Trại Trạng nguyên Trương Xán từng giữ chức Hàn lâm Học sĩ. Sau khi ông qua đời, nhiều làng chài đã lập đền thờ phụng ông, tôn kính như một vị Phúc thần chuyên hộ mệnh, cứu giúp những người dân đi biển.
Đường phố mang tên Trương Xán tại phường Nam Lý (TP. Đồng Hới, tỉnh Quảng Bình).
Tuyến đường mang tên Trương Xán tại phường Nam Lý (TP. Đồng Hới).
Nguồn sử liệu sơ khai và đáng tin cậy nhất về Trại Trạng nguyên Trương Xán có lẽ nằm trong bộ Đại Việt sử ký toàn thư, bộ chính sử quan trọng của quốc gia. Tác phẩm này đã trải qua quá trình biên soạn và bổ sung công phu qua nhiều thế hệ tác giả, từ trước năm 1272 cho đến năm 1697 mới được khắc in hoàn chỉnh dưới hình thức Nội các quan bản (ấn bản chính thức của cơ quan nhà nước Nội các).
 
Trong khi đó, một tác phẩm địa chí quen thuộc hơn là Ô Châu cận lục, được biên soạn bởi Tiến sĩ Dương Văn An, người gốc Quảng Bình, cùng hai học trò vào năm 1555. Mặc dù cuốn sách này đã ghi chép chi tiết về nhiều sĩ hoạn, khoa bảng, quan lại… thuộc vùng đất Ô Châu (bao gồm tỉnh Quảng Bình) qua các thời kỳ, nhưng lại hoàn toàn không có bất cứ thông tin nào về thân thế và sự nghiệp của vị Trại Trạng nguyên Trương Xán.
 
Các tài liệu hậu thế như Đại Việt lịch triều đăng khoa lục, Tam khôi bị lục và một số bộ sách khác được biên soạn dưới triều Nguyễn cũng có đề cập đến Trương Xán, song thông tin lại rất ít ỏi và phần lớn là trùng lặp. Điều này phản ánh rõ nét những khó khăn trong việc tiếp cận, lưu trữ và truyền tải thông tin lịch sử, văn hóa ngay từ thời xa xưa, dẫn đến hệ quả là sự mai một, thậm chí biến dạng qua thời gian. Điển hình là việc Trại Trạng nguyên Trương Xán từng được tiền nhân tôn phong làm Phúc thần và nhiều làng chài phụng thờ, nhưng hiện nay, mọi chứng cứ vật chất và tinh thần liên quan như thần tích, dấu tích đền miếu hay truyền thuyết… tại Quảng Bình, kể cả ở quê hương ông (xã Hoành Bồ-Quảng Đông), đều không còn lưu lại bất kỳ dấu vết nào.
 
Tương tự, các sử liệu cổ từ nhiều nguồn khác nhau đều ghi nhận và được hậu thế thường dẫn theo rằng Trại Trạng nguyên Trương Xán từng giữ ba chức quan trong triều: Thị Lang, Tự Khanh và Hàn lâm Học sĩ. Hai chức Thị Lang và Hàn lâm Học sĩ đã tồn tại vào thời điểm Trương Xán đỗ Trạng nguyên. Tuy nhiên, theo ghi chép trong Lịch triều hiến chương loại chí của Phan Huy Chú, chức Tự Khanh chỉ được thiết lập từ “Đời Trần Dụ Tông (trị vì 1341-1369)”.
 
Trong khi đó, Đại Việt sử ký toàn thư lại chép rằng Trương Xán đỗ Trại Trạng nguyên vào năm 1256, khi ông vừa tròn 29 tuổi. Như vậy, nếu ông thực sự giữ chức Tự Khanh, ít nhất ông cũng phải ở vào tuổi 114 (?). Chính vì sự mâu thuẫn về niên đại này mà trong các công trình nghiên cứu công phu của các học giả hiện đại, cũng như tại hội thảo cấp quốc gia quy mô lớn về các danh nhân Quảng Bình tổ chức năm 2014 – nơi đề cập đến hàng chục nhân vật kiệt xuất – lại không có một bài viết hay tham luận toàn diện nào về thân thế, sự nghiệp và công trạng của Trại Trạng nguyên Trương Xán, hiển nhiên là do thiếu hụt tư liệu nền tảng đáng tin cậy.
 
Quay trở lại hai câu thơ trong Đại Nam Quốc sử diễn ca: “Trạng nguyên, Bảng nhãn, Thám hoa//Kẻ Kinh, người Trại cũng là tài danh”, có thể thấy đây là một sự phản ánh sâu sắc và đánh giá về định chế thi cử đặc biệt dưới triều Trần. Thực tế, khoa thi đầu tiên tại Việt Nam được mở từ năm 1075 dưới triều Lý. Tuy nhiên, phải gần 200 năm sau, vào đời vua Trần Thái Tông (năm 1247), triều đình mới chính thức thiết lập định chế chọn Trạng nguyên, Bảng nhãn, Thám hoa – ba vị trí đỗ đầu (Tam khôi) của kỳ thi, trong đó Trạng nguyên là người đạt kết quả cao nhất. Đến kỳ thi năm 1256, có lẽ nhằm mục đích cải cách giáo dục và phù hợp với hiện tình đất nước bấy giờ, khác với các kỳ thi trước, ở vị trí đỗ đầu, nhà Trần đã đồng thời chọn ra hai Trạng nguyên từ hai vùng đất khác nhau, phân biệt thành Kinh Trạng nguyên (Trần Quốc Lặc, người Hải Dương) và Trại Trạng nguyên (Trương Xán, người Quảng Bình). “Năm Bính Thìn (1256), mùa xuân, tháng 2, mở khoa thi chọn kẻ sĩ. Ban cho Trần Quốc Lặc đỗ Kinh Trạng nguyên, Trương Xán đỗ Trại Trạng nguyên (…). Hồi quốc sơ cử người chưa phân Kinh, Trại, người đỗ đầu ban cho (danh hiệu) Trạng nguyên. Đến nay chia Thanh Hóa, Nghệ An làm Trại, nên có phân biệt Kinh, Trại”. Do đó, cụm từ “Kẻ Kinh, người Trại cũng là tài danh” được xem là lời bình phẩm công tâm và xứng đáng của các sử gia hậu thế về những tài năng xuất chúng ở cả hai vùng Kinh và Trại cùng đạt danh hiệu Trạng nguyên trong những kỳ thi đặc biệt này.
 
Tuy nhiên, sự hiện diện của phụ từ “cũng” (cũng là tài danh) trong câu thơ cho phép chúng ta suy đoán về những “quan ngại” đương thời liên quan đến chất lượng của hai loại Trạng nguyên Kinh và Trại. Trong tiếng Việt, phụ từ “cũng” thường dùng để khẳng định sự tương đồng về hiện tượng, trạng thái, tính chất giữa các trường hợp. Với cấu trúc ngữ pháp này, câu thơ gợi ý rằng, bên cạnh việc vinh danh các tài năng khoa bảng, còn có một hàm ý “bảo vệ” năng lực của các Trại Trạng nguyên trước “dư luận xã hội” bằng cách so sánh họ với Kinh Trạng nguyên. Tại sao người đời sau vẫn cần phải biện minh cho cải cách thi cử này? Nguyên nhân của tâm lý phân biệt Kinh, Trại ăn sâu trong tiềm thức xã hội bấy giờ bắt nguồn từ việc nhà Lý, sau khi dời đô về Thăng Long, đã phân chia đất nước thành hai vùng Kinh (từ Ninh Bình trở ra) và Trại (từ Thanh Hóa trở vào), đồng thời coi vùng Trại có vị thế thấp kém hơn. Kế thừa, nhà Trần cũng nhận thức được sự khác biệt vùng miền này, nên đã lần đầu tiên thiết lập định chế đồng thời tuyển chọn hai Trạng nguyên Kinh, Trại trong hai khoa thi liên tiếp (1256, 1266) nhằm mở rộng nguồn nhân tài. Kết quả là mỗi kỳ thi đều tìm được một Trạng nguyên vô cùng xứng đáng từ vùng Trại: Trương Xán (1256) và Bạch Liêu (1266).
 
Điều này cho thấy, dù bị đánh giá thấp, vùng đất Trại thực chất không hề lạc hậu hay kém cỏi như nhiều người vẫn tưởng. Câu viết “kẻ Kinh, người Trại cũng là tài danh” trong Đại Nam Quốc sử diễn ca hoàn toàn chính xác. Bằng chứng là cả bốn vị Trạng nguyên trong hai khoa thi liên tiếp này – Kinh Trạng nguyên Trần Quốc Lặc và Trại Trạng nguyên Trương Xán năm 1256; Kinh Trạng nguyên Trần Cố và Trại Trạng nguyên Bạch Liêu năm 1266 – đều được triều đình trọng dụng và sau khi qua đời, được tôn phong Phúc thần, được nhân dân địa phương cũng như trong vùng thành kính thờ cúng, không hề có bất kỳ dấu hiệu phân biệt đối xử nào.
 
Hiện nay, ở tầm quốc gia, Trại Trạng nguyên Trương Xán được hậu thế tôn vinh và phụng thờ tại nhà thờ họ Trương Việt Nam, thuộc thị trấn Thiên Tôn, huyện Hoa Lư, Ninh Bình. Tại tỉnh Quảng Bình, dòng họ Trương ở phường Quảng Thuận, thị xã Ba Đồn cũng thờ tự Trạng nguyên Trương Xán như một bậc tiền hiền khai sáng của dòng họ mình.
 
Với khối lượng tư liệu hiện có, Trạng nguyên Trương Xán được vinh danh là người đặt nền móng rực rỡ cho truyền thống khoa cử của tỉnh Quảng Bình, bất chấp xuất thân từ một vùng đất đầy gian khó. Những gì sử liệu lưu lại về ông phần nào cho thấy tinh thần hiếu học, ý chí vươn lên vượt qua hoàn cảnh để đạt thành tựu, và những cống hiến lớn lao cho triều đại đương thời, cho đất nước, nhờ đó mà ông được nhà Trần trọng dụng lâu dài.
Trần Hùng
 
Tài liệu tham khảo:
– Đại Việt sử ký toàn thư (tập 2), Nxb Khoa học xã hội  tháng 11/2004.
– Quảng Bình Khoa lục, Nxb Thuận Hóa-2016.
– Ô Châu cận lục, Dương Văn An, Nxb Thuận Hóa, năm 2001.
– Lịch triều hiến chương loại chí, Phan Huy Chú, Nxb Trẻ, 2014.
– Danh nhân Quảng Bình, Báo cáo khoa học hội thảo quốc gia, nhiều tác giả, Nxb Chính trị-Hành chính, 2014.