Quảng Bình nổi tiếng là vùng đất hiếu học với truyền thống khoa bảng lâu đời, sản sinh nhiều danh nhân tài năng qua các triều đại. Đặc biệt, dưới triều Nguyễn, 24 vị tiến sĩ người Quảng Bình đã vinh dự được khắc tên trên bia đá tại Văn Miếu Huế, khẳng định vị thế của vùng đất này trong nền khoa cử quốc gia. Nhiều làng quê như La Hà, Cảnh Dương và các gia đình hiếu học đã trở thành cái nôi sản sinh nhân tài với nhiều thế hệ cùng đỗ đại khoa. Các tiến sĩ Quảng Bình đã có những đóng góp quan trọng cho đất nước, tiêu biểu là Võ Khắc Triển – vị tiến sĩ Nho học cuối cùng của Việt Nam, người đã tận tâm phụng sự và cống hiến cho văn hóa dân tộc. Truyền thống hiếu học này vẫn được thế hệ trẻ kế thừa và cần được các cơ quan chức năng quảng bá rộng rãi để lan tỏa tấm gương sáng của các bậc tiền nhân.
(QBĐT) – Quảng Bình từ lâu đã nổi danh là đất học, nơi ươm mầm và phát triển truyền thống hiếu học, tài năng vượt trội. Lịch sử ghi nhận nhiều danh nhân khoa bảng túc trí đa mưu, những người con ưu tú của Quảng Bình dưới các triều đại Trần, Lê, Mạc. Nổi bật trong số đó là Trương Xán, Phan Mãnh, Trần Đạt, Nguyễn Tử Hoan, Hồ Long, Nguyễn Đình Cầu. Đặc biệt, từ thế kỷ XV, mảnh đất này đã xuất hiện các vị tiến sĩ đầu tiên như Dương Văn An (đậu khoa năm 1547), Lê Đa Năng (đậu khoa năm 1565), Nguyễn Trạch (đậu khoa năm 1580) và Phạm Văn Kháng (đậu khoa năm 1592), khẳng định vị thế của Quảng Bình trong nền khoa cử quốc gia.
Bước sang thế kỷ XIX, truyền thống khoa bảng Quảng Bình tiếp tục thăng hoa rực rỡ. Dưới triều Nguyễn, con số ấn tượng 269 cử nhân, 20 phó bảng và 24 tiến sĩ đã minh chứng hùng hồn cho tinh thần hiếu học của vùng đất này. Dấu ấn vinh hiển nhất là tên tuổi của 24 vị tiến sĩ Quảng Bình vẫn uy nghi khắc trên bia đá tại Văn Miếu Huế, trường tồn cùng thời gian.
![]() |
Văn Miếu Huế, nơi lưu giữ 32 tấm bia tiến sĩ, ghi danh 293 nhân tài khắp cả nước đã xuất sắc vượt qua 38 kỳ thi Hội, từ khoa đầu tiên năm 1822 đến khoa cuối cùng năm 1919. Trong danh sách vẻ vang đó, 24 vị tiến sĩ người Quảng Bình đã vinh dự góp mặt, bao gồm:
– Nguyễn Cửu Trường, khoa thi năm 1838, tên khắc tại bia số 6.
– Phạm Chân, khoa thi năm 1838, tên khắc tại bia số 6.
– Hồ Văn Trị, khoa thi năm 1841, tên khắc tại bia số 7.
– Ngô Khắc Kiệm, khoa thi năm 1842, tên khắc tại bia số 8.
– Nguyễn Duy Cần, khoa thi năm 1842, tên khắc tại bia số 8.
– Nguyễn Dương Huy, khoa thi năm 1844, tên khắc tại bia số 10.
– Nguyễn Đăng Hành, khoa thi năm 1848, tên khắc tại bia số 12.
– Lê Hữu Đệ, khoa thi năm 1848, tên khắc tại bia số 12.
– Vũ Xuân Xán, khoa thi năm 1848, tên khắc tại bia số 12.
– Nguyễn Phùng Dực, khoa thi năm 1849, tên khắc tại bia số 13.
– Nguyễn Quốc Thành, khoa thi năm 1851, tên khắc tại bia số 14.
– Phạm Nhật Tân, khoa thi năm 1851, tên khắc tại bia số 14.
– Trần Văn Hệ, khoa thi năm 1851, tên khắc tại bia số 14.
– Trần Văn Chuẩn, khoa thi năm 1862, tên khắc tại bia số 18.
– Phạm Duy Đôn, khoa thi năm 1865, tên khắc tại bia số 20.
– Lê Đại, khoa thi năm 1869, tên khắc tại bia số 20.
– Phan Văn Khải, khoa thi năm 1889, tên khắc tại bia số 23.
– Tạ Hàm, khoa thi năm 1892, tên khắc tại bia số 25.
– Trần Văn Thống, khoa thi năm 1901, tên khắc tại bia số 26.
– Nguyễn Duy Tích, khoa thi năm 1901, tên khắc tại bia số 26.
– Nguyễn Duy Phiên, khoa thi năm 1907, tên khắc tại bia số 28.
– Lê Chí Tuân, khoa thi năm 1907, tên khắc tại bia số 28.
– Nguyễn Ngọc Toản, khoa thi năm 1916, tên khắc tại bia số 31.
– Võ Khắc Triển, khoa thi năm 1919, tên khắc tại bia số 32([1]).
Đáng chú ý, trong số 24 vị tiến sĩ Quảng Bình, hai khoa thi năm 1848 và 1851 mỗi khoa đã có tới ba người đỗ đạt, gồm: Nguyễn Đăng Hành, Lê Hữu Đệ, Vũ Xuân Xán (năm 1848) cùng Nguyễn Quốc Thành, Phạm Nhật Tân, Trần Văn Hệ (năm 1851). Các năm 1838, 1842, 1901 và 1907 cũng ghi nhận mỗi khoa thi có hai tiến sĩ vinh quy bái tổ, điển hình là Nguyễn Cửu Trường, Phạm Chân (năm 1838); Ngô Khắc Kiệm, Nguyễn Duy Cần (năm 1842); Trần Văn Thống, Nguyễn Duy Tích (năm 1901); Nguyễn Duy Phiên, Lê Chí Tuân (năm 1907).
Nhiều làng quê Quảng Bình đã trở thành cái nôi sản sinh nhân tài. Tiêu biểu là làng văn vật La Hà với năm vị tiến sĩ trong các năm 1851, 1862, 1892 và 1901, bao gồm Phạm Nhật Tân, Trần Văn Hệ, Trần Văn Chuẩn, Tạ Hàm, Trần Văn Thống. Làng Cảnh Dương cũng tự hào có hai tiến sĩ là Phạm Chân (năm 1838) và Nguyễn Phùng Dực (năm 1849).
![]() ![]() |
Dòng chảy khoa bảng còn thể hiện qua những gia đình có nhiều thế hệ, thành viên cùng đỗ đại khoa. Đơn cử là gia đình tiến sĩ Nguyễn Duy Cần tại làng Lý Hòa. Gia đình tiến sĩ Nguyễn Quốc Thành cũng vinh hiển với cha con, anh em cùng đăng khoa: ông là con của Nguyễn Quốc Hoàn và em của Nguyễn Quốc Uyển. Tiến sĩ Phạm Nhật Tân, người từng giữ chức Chưởng ấn Văn hệ nghiệp ấn, cũng có chú cháu cùng đăng khoa, đó là chú của Phạm Bình.
Tiến sĩ Tạ Hàm, người giữ trọng trách Tham biện các vụ, thuộc một dòng họ khoa bảng danh tiếng với cha con, chú cháu, anh em đều thành danh. Ông là con thừa tự của Tạ Khuê, cháu của Tạ Kim Vực và Tạ Kim Phu, em họ của Tạ Kim Bàng và Tạ Ngọc Đường, đồng thời là tòng huynh của Tạ Trí Đạm.
Bên cạnh đó, tiến sĩ Nguyễn Phùng Dực, từng là Đốc học Vĩnh Long, cũng có anh em ruột cùng đăng khoa, ông là em của Nguyễn Tịnh.
Tiến sĩ Trần Văn Chuẩn, từng giữ cương vị Tổng đốc An Tịnh, đã kinh qua nhiều chức vụ và luôn được dân chúng kính trọng, mến yêu. Ông cũng có anh em ruột cùng đăng khoa, là anh của Trần Văn Thức.
Đặc biệt, Nguyễn Duy Phiên đã đỗ đầu cả khoa thi Hội và thi Đình vào năm 1907 khi chỉ mới 23 tuổi, một thành tích xuất chúng.
Hành trạng của 24 vị tiến sĩ Quảng Bình được khắc ghi tại Văn Miếu Huế là minh chứng cho những đóng góp đa dạng của họ trên khắp đất nước. Với chí khí thanh cao, họ tận tâm phụng sự triều đình và phục vụ nhân dân. Một điển hình sáng ngời là tiến sĩ Võ Khắc Triển, vị tiến sĩ Nho học cuối cùng của Việt Nam, người mang nặng tình yêu nước, kết giao với cụ Nguyễn Sinh Sắc – thân sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh. Ông được ghi nhận là người “thường bảo vệ những người vô tội, che chở tù chính trị, thường giảm án hoặc tha bổng họ, làm lợi cho phong trào cách mạng”([2]).
Sau thắng lợi của Cách mạng tháng Tám năm 1945, ông Võ Khắc Triển tiếp tục gắn bó mật thiết với quê hương Quảng Bình, đồng cam cộng khổ với nhân dân địa phương và kiên định niềm tin vào chiến thắng cuối cùng của dân tộc. Với vốn Hán Nôm uyên bác, năm 1957, ông được Trung ương mời ra Hà Nội và cống hiến 10 năm miệt mài tại Viện Văn học, thực hiện công tác dịch thuật Hán Nôm, để lại nhiều công trình giá trị về văn học trung đại cho đất nước. Ngày nay, thế hệ trẻ Quảng Bình vẫn đang kế thừa và phát huy truyền thống hiếu học của cha ông; điển hình là tại huyện Lệ Thủy, dòng họ cụ Võ Khắc Triển tiếp tục sản sinh nhiều gia đình hiếu học, con cháu thành đạt.
Cội nguồn sâu xa làm nên truyền thống khoa bảng rạng rỡ của Quảng Bình chính là tinh thần hiếu học và lòng khát khao tri thức cháy bỏng của người dân nơi đây. Ở nhiều làng quê, việc học không chỉ là một tiêu chuẩn mà còn là thước đo nhân cách, hình thành nên những làng hiếu học lừng danh như Lệ Sơn, La Hà, Quảng Xá, Cổ Hiền, Tuy Lộc, Mỹ Lộc, Kim Nại, Đại Phong…
Nhằm lan tỏa rộng rãi hơn nữa tấm gương sáng ngời của 24 vị tiến sĩ Quảng Bình được vinh danh trên bia Văn Miếu Huế, thiết nghĩ các cơ quan chức năng cần chủ động xây dựng các kênh thông tin đa dạng. Cụ thể, việc phát triển các kênh hình ảnh, phim tư liệu lịch sử, bản dập văn bia, sách và tạp chí liên quan đến truyền thống khoa cử Quảng Bình là hết sức cần thiết. Các tư liệu này nên được nhân rộng và đưa vào thư viện các trường học trên địa bàn tỉnh, không chỉ để lưu trữ mà còn làm nguồn tài liệu quý giá phục vụ công tác giảng dạy môn Giáo dục địa phương Quảng Bình trong Chương trình Giáo dục phổ thông 2018. Qua đó, thế hệ trẻ hôm nay sẽ được khơi gợi niềm tự hào, tiếp nối truyền thống khoa cử và hiếu học mà các bậc tiền nhân đã dày công vun đắp, góp phần kiến thiết quê hương ngày càng phồn vinh, tươi đẹp.
Trần Nguyễn Khánh Phong
[1]: Nguyễn Thành Vân, Phạm Ngô Minh: Khoa bảng Quảng Bình và Giáo dục-Khoa cử triều Nguyễn. NXB Đà Nẵng, 2016, trang 110, 111, 112.
[2]: Nhiều tác giả: Kỷ yếu hội thảo khoa học “Tiến sĩ Nho học cuối cùng của Việt Nam Võ Khắc Triển (1883-1966)”. NXB Văn hóa Thông tin, Hà Nội, 2009, trang 8.
















