Thiếu tướng Hoàng Sâm: Hé lộ tầm vóc và bí mật lịch sử Việt Nam.

27

Thiếu tướng Hoàng Sâm là một danh tướng cách mạng tài năng lỗi lạc, đã dành trọn 41 năm trong 53 năm cuộc đời cho sự nghiệp giải phóng dân tộc, để lại nhiều đóng góp to lớn về cả chính trị và quân sự. Ông nổi bật với tinh thần tận hiến vô hạn, luôn đặt nhiệm vụ cách mạng lên trên lợi ích cá nhân và gia đình, thể hiện phẩm chất "chí công vô tư". Với bản lĩnh kiệt xuất, ông không chỉ gan dạ, dũng cảm vô song trong chiến đấu mà còn tài trí sắc sảo trong đối phó kẻ thù, điển hình qua việc thay đổi tư tưởng tác chiến và xây dựng liên minh Việt-Lào. Ông còn là một nhà chính trị xuất sắc, nhân ái, luôn quan tâm đến binh sĩ, được Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đại tướng Võ Nguyên Giáp đánh giá cao, xứng đáng là biểu tượng của một vị tướng hội tụ đầy đủ phẩm chất "tài, trí, dũng, liêm".

(QBĐT) – Mặc dù chỉ sống vỏn vẹn 53 năm, Thiếu tướng Hoàng Sâm đã dành trọn 41 năm cuộc đời cho hoạt động cách mạng, khắc ghi những đóng góp vô cùng ý nghĩa vào biên niên sử dân tộc trên cả hai bình diện chính trị và quân sự. Bài viết này tập trung làm sáng tỏ thêm những phẩm chất ưu việt, tài năng lỗi lạc và cống hiến to lớn của Hoàng Sâm trong lịch sử cận-hiện đại Việt Nam.

Vị tướng tận hiến, trọn đời vì cách mạng

Xuyên suốt chặng đường hoạt động cách mạng, Hoàng Sâm luôn thể hiện tinh thần tận hiến không giới hạn cho nhiệm vụ chung, gác lại hạnh phúc riêng tư để chuyên tâm vào sự nghiệp vĩ đại của dân tộc. Phải đến năm 32 tuổi, nhờ sự động viên và mai mối của Chủ tịch Hồ Chí Minh, ông mới kết duyên cùng bà Mỹ Lệ. Đầu năm 1947, khi nhận được chỉ thị thành lập Bộ Chỉ huy Mặt trận miền Tây, dù đang ở Hòa Bình, ông lập tức khởi hành trong đêm tối mưa rét đến Mường Hịch – nơi đặt trụ sở Bộ Chỉ huy. Trên đường hành quân từ Hòa Bình lên Mường Hịch, ông lệnh cho xe chạy xuyên đêm và cùng đồng chí Lê Hiến Mai khẩn trương bàn bạc công việc ngay trong xe: “….điểm lại tình hình, nhận định âm mưu mới của địch và biện pháp đối phó của ta ở Mặt trận Tây Tiến… Các anh lo lắng và trao đổi nhiều về những biện pháp để thực hiện chỉ thị của Bộ Tổng chỉ huy về việc phải chuyển hẳn tư tưởng tác chiến của bộ đội Tây Bắc. Khuyết điểm nghiêm trọng nhất của một số đơn vị ở Tây Bắc lúc đó là rải lực lượng lập phòng tuyến trên các trục đường giao thông đương đầu với “mũi dùi” chủ lực địch, nên đã bị quân địch tập trung lực lượng vừa đánh vỗ mặt, vừa vu hồi đánh ở sau lưng, lần lượt phá vỡ từng phòng tuyến của quân ta. Trước tình hình đó, Bộ Tổng tham mưu đã ra lệnh bỏ cách đánh dàn quân giữ đất mà chuyển hẳn sang đánh du kích vận động chiến… Ngay trong đêm hành quân mưa rét này, các đồng chí Hoàng Sâm và Lê Hiến Mai không hề chợp mắt lo tính đủ điều và vạch kế hoạch cụ thể: Củng cố lại chủ lực, chuyển các đơn vị sang làm tốt các nhiệm vụ là vừa tác chiến, vừa bám sát dân, hòa vào dân, vừa luyện tập, vừa tổ chức dân quân du kích, vừa phân nhỏ đơn vị luồn vào vùng địch phát động du kích chiến tranh thật mạnh mẽ, rộng khắp. Có làm được như vậy, ta mới có điều kiện chủ động đánh địch và thắng địch…”[1].

Đồng chí Hoàng Sâm cùng đồng chí Văn Tiến Dũng tại chiến khu Việt Bắc, năm 1947.
Đồng chí Hoàng Sâm cùng đồng chí Văn Tiến Dũng tại chiến khu Việt Bắc, năm 1947.

Vừa đặt chân đến Mường Hịch, bất chấp một đêm không ngủ, Hoàng Sâm không hề nghỉ ngơi mà bắt tay vào công việc ngay lập tức. Ngay sau đó, ông triệu tập hội nghị quân chính toàn mặt trận để triển khai cấp tốc các biện pháp vừa được hoạch định trên đường hành quân.

Hoàng Sâm là một vị tướng mẫu mực với tinh thần “chí công vô tư”, luôn đặt nhiệm vụ cách mạng lên trên hết. Vì công việc, ông sẵn sàng hy sinh lợi ích cá nhân và gia đình. Mặc dù rất mực yêu thương con cái, nhưng trong công việc, Hoàng Sâm luôn phân định rõ ràng giữa công và tư. Người con trai cả của ông, Hoàng Sùng, kể lại: “Ông chiều con đến nỗi mấy chị em muốn ăn một cái kẹo, mua một cái áo mới cũng đều xin bố chứ không xin mẹ. Bố tôi rất nghiêm. Chị tôi đi sơ tán học ở tận Hưng Yên, những lần bố tôi có chuyến đi công tác xuống đó, mẹ tôi xin cho chị đi nhờ, ông không bao giờ đồng ý. Ông bảo xe của công, không thể dùng vào việc riêng”[2].

Trong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ, Mặt trận Trị-Thiên là tuyến đầu đầy cam go, trực tiếp đối diện với miền Bắc và là điểm trung chuyển chiến lược của các tuyến đường Trường Sơn (Đông và Tây). Do đó, nơi đây trở thành chiến trường khốc liệt, nơi diễn ra những cuộc đấu trí, đấu lực gay gắt giữa hai bên. Trong Tổng tấn công và nổi dậy Mậu Thân 1968, do những sai lầm chủ quan trong việc đánh giá lực lượng địch, sau những thắng lợi ban đầu của đợt 1, địch đã củng cố lực lượng và phản công quyết liệt trong đợt 2 và đợt 3, khiến quân ta ở Trị Thiên chịu tổn thất nặng nề. Trước tình hình cấp bách đó, Quân ủy Trung ương đã tin tưởng cử Thiếu tướng Hoàng Sâm vào làm Tư lệnh Quân khu Trị-Thiên. Bước vào chiến trường lúc này đồng nghĩa với việc đối mặt với muôn vàn gian khổ, hiểm nguy, cận kề cái chết từng giờ. Trước lúc ông ra trận, bà Mỹ Lệ (phu nhân của ông) vô cùng lo lắng chất vấn: “Chiến trường ác liệt như thế, anh đi nếu chẳng may không về, ai nuôi 3 đứa con nhỏ?”. Đáp lại nỗi lo lắng của phu nhân, ông không một chút chần chừ, khẳng khái tuyên bố: “Anh chết thì các con đã có em, đã có Đảng, có Nhà nước lo. Chúng nhất định nên người”[3]. Lời đáp của ông đã thể hiện rõ khí phách kiên cường, tinh thần trách nhiệm cao cả của một “người lính” đối với Tổ quốc, cùng niềm tin sắt son vào Đảng, Nhà nước và tương lai của vợ con.

Vị tướng gan dạ, dũng cảm vô song

Về lòng dũng cảm và sự gan dạ, ông được ví như người sở hữu tinh thần “thép” kiên cường, điều này được minh chứng rõ nét qua những lần ông một mình xông vào tận hang ổ của các trùm phỉ khét tiếng như Lý Xíu, Voòng A Sáng. Tại đó, ông đã đấu trí, thi tài uống rượu, bắn súng, ném lựu đạn với chúng, khiến những kẻ cầm đầu phải hoàn toàn quy phục.

Trên chiến trường Tây Bắc thời kỳ đầu kháng chiến chống Pháp, Hoàng Sâm cùng Bộ Chỉ huy Mặt trận miền Tây không chỉ đối mặt với hoàn cảnh hiểm nghèo, thiếu thốn mà còn phải trải qua những cuộc đấu tranh căng thẳng nhằm thay đổi căn bản tư tưởng tác chiến của các đơn vị vũ trang đang chiến đấu. Chỉ với bản lĩnh kiệt xuất của một người chỉ huy như Hoàng Sâm và uy tín sâu rộng của ông, mới có thể làm được điều này và tìm được tiếng nói chung trong Bộ Chỉ huy Mặt trận miền Tây lúc bấy giờ. “Hoàng Sâm hiểu rất rõ âm mưu thâm độc của thực dân Pháp đối với Tây Bắc và thấy rằng để đánh thắng quân Pháp trên chiến trường này chúng ta cần phải củng cố liên minh chiến đấu Việt-Lào. Vì vậy Hoàng Sâm đã tổ chức ra Đội vũ trang tuyên truyền liên quân chiến đấu Lào-Việt; đội quân mà ngay từ khi vừa mới ra đời đã có chỗ đứng vững chắc trong phong trào cách mạng quần chúng của hai dân tộc Việt-Lào”[4]. Thiếu tướng Hoàng Sâm ghi dấu ấn với những chiến công lẫy lừng, mang tầm vóc “kinh điển”, điển hình như trận dốc Đẹt hoặc cuộc đối đầu trí tuệ đầy cân não với Liên khu trưởng quân Tưởng, khiến đối phương phải tâm phục khẩu phục, tự nguyện dâng tặng quân ta 300 khẩu súng bộ binh vì ngưỡng mộ “Tướng quân Hoàng”.

Thiếu tướng Hoàng Sâm (bên phải) đang nói chuyện với cụ Bùi Kỷ (Chủ tịch Uỷ ban Liên Việt) tại Đại hội Luyện quân lập công do quân và dân Liên khu 3 tổ chức tại Sở Kiện, Phủ Lý, Hà Nam, năm 1948.    Ảnh: Tư liệu
Thiếu tướng Hoàng Sâm (bên phải) đang nói chuyện với cụ Bùi Kỷ (Chủ tịch Ủy ban Liên Việt) tại Đại hội Luyện quân lập công do quân và dân Liên khu 3 tổ chức tại Sở Kiện, Phủ Lý, Hà Nam, năm 1948. Ảnh: Tư liệu

Trong trận quân Pháp âm mưu đánh úp Bộ Chỉ huy Mặt trận miền Tây ở Mường Hịch năm 1947, qua cách đối phó với địch, chúng ta càng thấy rõ sự gan dạ và dũng cảm vượt trội của Thiếu tướng Hoàng Sâm. Khi nhận được tin quân Pháp nhảy dù xuống Suối Rút nhằm chuẩn bị đánh úp trụ sở Bộ Chỉ huy, một trung đội do đồng chí Chu Đốc được điều tới tăng cường bảo vệ. Tuy nhiên, khi đơn vị này đến nơi, Hoàng Sâm lại điều động toàn đội đến dốc Văn để bảo vệ và hỗ trợ Quân y xá di chuyển. Do đó, Chỉ huy sở chỉ còn một lực lượng cảnh vệ ít ỏi và cơ quan văn phòng đặt dưới sự chỉ huy trực tiếp của Hoàng Sâm. “Không điều lực lượng bảo vệ Bộ Chỉ huy mà chính đồng chí Hoàng Sâm và Tạ Đình Đề còn xông ra lập trận địa chặn địch ở dốc Đẹt để bảo vệ cho Quân y xá di chuyển. Để lên dốc Đẹt, quân địch phải đi qua con đường hẻm, rất hiểm trở. Trên dốc cao hai ông chọn những vị trí cao tiện quan sát, rồi bình tĩnh chờ đợi những tên lính Pháp đến thật gần mới nổ súng. Vốn là những thiện xạ Hoàng Sâm và Tạ Đình Đề được dịp trổ tài. Riêng Hoàng Sâm đã tiêu diệt 5 tên địch. Quân giặc kinh hoàng không dám tiến lên nữa vì lên tên nào chết tên đó. Sau 1 ngày chiến đấu, quân Pháp không thể tiến quân được, buộc phải rút lui. Âm mưu đánh úp Bộ Chỉ huy Tây Tiến thất bại. Nhờ vậy Quân y xá mặt trận di chuyển an toàn về Châu Trang và Sở chỉ huy mặt trận cũng chuyển về Mường Bi an toàn”[5].

Vị tướng nhân ái, bao dung, hết lòng thương yêu bộ đội

Theo ông Tô Văn Cắm – một trong số 34 chiến sĩ của Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân – kể lại thì “Hoàng Sâm sống rất là tình cảm, ông thương anh em chiến sĩ lắm… mùa đông tháng rét ở rừng, đêm nằm ngủ ông còn đi đắp chăn, sửa màn cho từng người, kiểm tra hết đồng đội…. Đối với cán bộ, anh chú trọng phát hiện chỗ mạnh để khuyến khích phát huy mà không thành kiến với những mặt yếu của cấp dưới”[6]. Ông Trần Kỳ – cựu chiến binh Tây Tiến – cũng hồi tưởng: “Khu trưởng là người điềm đạm, lịch lãm, thương yêu quý trọng cấp dưới, ít khi nóng giận. Nhưng khi nóng giận thì “trời cũng bé”[7]. Ông Hoàng Sinh – nguyên thư ký của Thiếu tướng Hoàng Sâm – chia sẻ rằng: “… Anh thường nhắc nhở chúng tôi đi lại, ăn uống, ngủ đêm tránh thành quy luật nhất định mà cần luôn thay đổi bất ngờ để chủ động trong mọi tình huống”[8].

Khi chiêm nghiệm về cuộc đời và sự nghiệp lẫy lừng của Thiếu tướng Hoàng Sâm, đối chiếu với những phẩm chất của một danh tướng mà Chủ tịch Hồ Chí Minh từng gửi gắm trong bức thư cho Thiếu tướng Nguyễn Sơn: “Đảm dục đại, tâm dục tế, trí dục viên, hành dục phương” (Gan lớn, lòng khéo, trí tròn, hạnh vuông), ta thấy ông hoàn toàn hội tụ đầy đủ những tiêu chí ấy. Bên cạnh những công lao to lớn về quân sự, Hoàng Sâm còn là một chính trị gia xuất sắc. Ông từng được bầu làm đại biểu Quốc hội khóa II, khóa III; là một trong những nhà vận động cách mạng tích cực ở Thái Lan; một trong những nhà dân vận bậc thầy ở Cao Bằng và ở Lào. Ông không chỉ thức tỉnh, giác ngộ quần chúng tham gia cách mạng mà còn có đủ tài trí để khuất phục được các trùm phỉ nổi tiếng, các tướng tá ngang tàng của quân đội hoàng gia Lào. Ông cũng là một trong những người góp phần không nhỏ vào việc xây dựng và phát triển tình hữu nghị đoàn kết chiến đấu bền chặt giữa hai quân đội và nhân dân hai nước Việt Nam-Lào.

Trọn đời đi theo cách mạng từ thuở thiếu niên cho đến hơi thở cuối cùng, Thiếu tướng Hoàng Sâm là người trung thành vô hạn với Đảng, hết lòng chiến đấu, hy sinh vì độc lập dân tộc, vì tự do của nhân dân. Ông là một trong những người có công lao to lớn trong công cuộc xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam. Ông xứng đáng là người học trò xuất sắc của Chủ tịch Hồ Chí Minh, người bạn chiến đấu, người đồng chí tin cậy của Đại tướng Võ Nguyên Giáp. Ông được cố Đại tướng Võ Nguyên Giáp quý trọng ca ngợi là “Tra pa ép của Việt Nam”. Thiếu tướng Hoàng Sâm “đã đi xa” nhưng tên tuổi và sự nghiệp lẫy lừng của ông vẫn sống mãi cùng Quân đội, cùng quê hương, đất nước. Thiếu tướng Hoàng Sâm hội tụ đầy đủ phẩm chất của một vị tướng cách mạng: tài, trí, dũng, liêm; đồng thời ông cũng là một nhà chính trị sắc sảo, kiệt xuất. 

Lê Trọng Đại

[1] Bộ Quốc phòng-Viện Lịch sử quân sự (2011), Sđd, tr. 243-246

[2] Trần Ngọc Long (2015), Sđd, tr. 29.

[3] Trần Ngọc Long (2015), Sđd, tr. 30.

[4] Trần Ngọc Long (2015), Sđd, tr. 28.

[5] Bộ Quốc phòng-Viện Lịch sử quân sự (2011), Sđd, tr. 92.

[6] Bộ Quốc phòng-Viện Lịch sử quân sự (2011), Sđd, tr. 258.

[7] Bộ Quốc phòng-Viện Lịch sử quân sự (2011), Sđd, tr. 275.

[8] Bộ Quốc phòng-Viện Lịch sử quân sự (2011), Sđd, tr. 258.