Nguyễn Hàm Ninh là một danh sĩ lỗi lạc, gắn liền với huyền thoại Hòn Lèn Bảng ở Tuyên Hóa và được coi là bậc thần đồng. Xuất thân từ gia đình hiếu học, ông sớm đỗ đạt và làm quan dưới ba triều vua, dù con đường hoạn lộ đầy gian truân với nhiều lần bị bãi chức do tính cách chính trực và không chịu luồn cúi. Tuy nhiên, tài năng của ông tỏa sáng rực rỡ nhất trong sự nghiệp thơ văn, với khối lượng tác phẩm đồ sộ và được các danh sĩ đương thời như Cao Bá Quát, Tùng Thiện Vương hết lời ca ngợi. Nguyễn Hàm Ninh được biết đến là một vị quan thanh liêm, yêu nước thương dân sâu sắc, và là một nhà thơ lớn có đóng góp quan trọng cho nền văn học Việt Nam nửa đầu thế kỷ XIX.
(QBĐT) – Từ ngã tư Quảng Thọ (TX. Ba Đồn), men theo Quốc lộ 12A hướng Tây về đầu xã Liên Trường, du khách sẽ dễ dàng nhận ra Hòn Lèn Bảng sừng sững, uy nghiêm giữa bạt ngàn núi non Tuyên Hóa. Lèn Bảng, còn được biết đến với tên gọi Bảng Sơn, từ bao đời nay đã trở thành biểu tượng tâm linh linh thiêng của vùng đất trung lưu sông Gianh, gắn liền với vô vàn giai thoại kỳ bí, trong đó nổi bật là câu chuyện về danh sĩ Nguyễn Hàm Ninh.
Theo ghi chép trong sách “Đời tài hoa”, Nguyễn Hàm Ninh từ thuở chưa lọt lòng đã được người đời coi là bậc thần đồng. Tương truyền, vào những đêm khuya vắng vẻ, một ngọn đèn leo lét thường xuất hiện dưới gốc cây trên Hòn Lèn Bảng, kèm theo tiếng đọc sách văng vẳng vọng xa. Kỳ lạ thay, kể từ khi cụ ra đời, ánh đèn và tiếng đọc sách ấy bỗng chốc biến mất, chỉ còn nghe thấy đâu đó trong chính mái ấm của cụ. Nhưng rồi, vào khoảnh khắc cụ giã biệt cõi trần để về với suối vàng, mây trời, ngọn đèn và tiếng đọc sách trên Hòn Lèn Bảng lại bất chợt hiện hữu. Bởi lẽ đó, nhiều người tin rằng, cụ Nguyễn Hàm Ninh chính là vị tiên nhân từ Hòn Lèn Bảng giáng trần. Phải chăng chính từ giai thoại kỳ ảo ấy, cùng nguồn cảm hứng bất tận dành cho một thi nhân lỗi lạc, nhà thơ Xuân Hoàng đã khắc họa nên những vần thơ sâu lắng trong bài “Năm con sông quê hương”:
“Vùng Thanh Thủy vẫn nguyên hòn Lèn Bảng
Nguyễn Hàm Ninh dẫn bạn đến bình văn…”
(Thật xót xa khi Hòn Lèn Bảng ngày nay gần như chỉ còn là hoài niệm. Những ai từng chứng kiến vẻ hùng vĩ của Lèn Bảng xưa và đối diện với hiện trạng của nó hôm nay chắc hẳn không khỏi ngậm ngùi, tiếc nuối. Khi nhắc đến đây, lòng người lại thổn thức nhớ đến câu hát trong khúc nhạc “Diễm xưa” của nhạc sĩ Trịnh Công Sơn: “Làm sao em biết bia đá không đau/… Ngày sau sỏi đá cũng cần có nhau”).
![]() |
Danh nhân Nguyễn Hàm Ninh sinh ngày 11/2/1808 (tức ngày 15/1 năm Mậu Thìn) và tạ thế ngày 9/1/1867 (tức ngày 15/12 năm Đinh Mão). Ông chào đời trong một gia đình nông dân dù nghèo khó nhưng hiếu học tại làng Phù Kinh (nay thuộc xã Phù Hóa, Quảng Trạch). Ông là hậu duệ đời thứ 5 của cụ Nguyễn Đăng Khoa, người từng đỗ tú tài tại trường Hà Nội trước khi di cư vào Phù Kinh. Gia đình ông có 7 anh chị em, gồm 5 trai và 2 gái. Đặc biệt, ba người con trai đều thành danh hiển hách: Nguyễn Hàm Ninh đỗ thủ khoa thi Hương (Giải Nguyên), em trai Nguyễn Hàm Nghi đỗ cử nhân khoa Tân Sửu năm 1841, và em út Nguyễn Hàm Trạch đỗ tú tài năm 1846. Vì hoàn cảnh gia đình khó khăn, năm 15 tuổi, Nguyễn Hàm Ninh được người cô ruột tại làng Trung Thuần (nay thuộc xã Quảng Lưu, Quảng Trạch) đón về nuôi dạy ăn học.
Với tư chất thông minh xuất chúng, chỉ sau sáu năm miệt mài đèn sách, ông đã đỗ tú tài vào năm 1829. Hai năm sau, ở tuổi 23, ông xuất sắc đỗ thủ khoa kỳ thi Hương tại Thừa Thiên, giành danh hiệu Giải Nguyên cao quý. Từ đó, con đường hoạn lộ của ông chính thức mở ra, chất chứa bao thăng trầm, biến cố. Ngay sau khi đỗ đạt, ông được bổ nhiệm làm quan dưới ba triều vua Minh Mạng, Thiệu Trị, Tự Đức, kinh qua nhiều chức vụ khác nhau. Năm Quý Tỵ 1833, khi mới 25 tuổi, ông được bổ làm Tri huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang, sau đó xin nghỉ về quê chịu tang cha. Năm Bính Thân 1836, ông giữ chức Quốc học độc thư, trở thành thầy dạy cho thái tử Nguyễn Phúc Miên Tông (tức vua Thiệu Trị sau này).
Năm 1838, khi đang giữ chức Chủ sự phủ Tôn Nhơn, ông phạm lỗi và bị vua Minh Mạng bãi chức, cho về quê. Đến năm Tân Sửu 1841, ông được phục chức làm Hành tẩu nội các, rồi sau đó là Ngoại lang bộ Hình. Năm Bính Ngọ 1846, ông thăng chức Lang trung bộ Lễ. Năm 1847, trong khi đang làm Án sát tỉnh Khánh Hòa, ông bị thuyền buôn của phương Tây bắt giữ, rồi bị nhà vua cách chức và đày vào Đà Nẵng sung quân. Sau một thời gian, ông lại được phục chức làm Trước tác Viện Hàn lâm. Dù thời gian làm quan không dài, Nguyễn Hàm Ninh đã trải qua đến 4 lần bị bãi chức, cách chức. Về sau, khi tuổi già, nhìn lại chặng đường hoạn lộ đầy sóng gió của mình, Nguyễn Hàm Ninh đã tự thốt lên bằng những vần thơ đầy chua xót:
“Làm quan hai chục năm trời ấy
Được cái nghèo xơ buổi trở về…”
Dẫu con đường quan trường của Nguyễn Hàm Ninh đầy gian truân, nhưng chính sự nghiệp thơ văn mới là nơi tài danh của ông tỏa sáng rực rỡ và lưu danh muôn thuở cùng sử sách.
Khi nhắc đến các bậc danh nhân triều Nguyễn, người đời không thể không nhớ đến câu truyền tụng bất hủ: “Văn như Siêu, Quát vô tiền Hán/Thi đáo Tùng, Tuy thất Thịnh Đường” (ý nghĩa: Văn đạt đến mức của Nguyễn Văn Siêu, Cao Bá Quát thì ngay cả đời tiền Hán cũng không tìm thấy ai sánh kịp; thơ đạt đến trình độ của Tùng Thiện Vương, Tuy Lý Vương thì ngay cả thời Thịnh Đường cũng khó có đối thủ). Ấy vậy mà cả Cao Bá Quát và Tùng Thiện Vương, những bậc kỳ tài đương thời, đều vô cùng kính trọng tài năng thơ ca của Nguyễn Hàm Ninh.
Nguyễn Hàm Ninh đã sáng tác một khối lượng lớn thơ và văn bằng cả chữ Hán và chữ Nôm. Về chữ Hán, nổi bật có Tĩnh trai thi tập (hay Nhân Sơn thi sao), Dược sư ngẫu đề, Danh biên tập lục, Tĩnh Trai thi sao, Tĩnh Trai tiểu thảo trích sao. Về chữ Nôm, ông có các tác phẩm như Nhớ ơn Vua, Tức Cảnh ở chợ trời Sơn Tây, Phản thúc ước… cùng nhiều sáng tác khác. Đáng tiếc, do biến động lịch sử, chiến tranh, thiên tai và nhiều yếu tố khác, đến nay nhiều tác phẩm của Nguyễn Hàm Ninh đã bị thất lạc hoặc hư hại.
Tuy nhiên, với những tác phẩm còn được lưu giữ, cùng qua các giai thoại, chuyện kể dân gian, sáng tác của bạn bè thơ văn cùng thời và các công trình nghiên cứu sau này về Nguyễn Hàm Ninh, chúng ta có thể thấy sự nghiệp sáng tác của ông vô cùng phong phú và đồ sộ. Đặc biệt, tài năng thi ca của Nguyễn Hàm Ninh qua nhiều tác phẩm đã đạt đến đỉnh cao của tuyệt tác. Khi nhận xét về nhiều bài thơ trong tập Tĩnh Trai thi tập của cụ, Tùng Thiện Vương đã hết lời ca ngợi: “Thạnh Đường duy trứ bách đọc bất yếu” (Một bài thơ hay đời Thịnh Đường sót lại, đọc trăm lần không chán). Còn Cao Bá Quát thì trầm trồ thán phục: “Phi thiện học Thiếu Lăng yên đắc linh diệu nại dư” (Nếu không phải đã học được tài thơ của Đỗ Phủ thì làm sao mà linh diệu được đến thế).
Nguyễn Hàm Ninh là người luôn đau đáu, trăn trở trước vận mệnh quốc gia và cuộc sống cơ cực của dân chúng. Thế nhưng, trong bối cảnh thời cuộc đầy biến động, ông đành bất lực nhìn những hoài bão của mình không thể thành hiện thực. Nỗi căm giận âm ỉ ấy đôi khi bộc phát qua những lời nói, những câu đối châm biếm hết sức thông minh và sâu sắc. Chính vì sự “ngang tàng” không khuất phục ấy mà ông đã trở thành cái gai trong mắt lũ nịnh thần ngu dốt, bị chúng ghen ghét xúi giục nhà vua nhiều lần cách chức. Tuy vậy, Nguyễn Hàm Ninh không xem đó là thất bại, trái lại, những thử thách ấy càng hun đúc thêm ý chí và bản lĩnh kiên cường trong con người ông. Đọc bài thơ sau đây của Nguyễn Hàm Ninh, chúng ta có dịp hiểu thêm phần nào bản lĩnh, nhân cách cao đẹp của một nhà thơ yêu nước, thương dân:
“Đồi bên kia suối suối bên đồi
Phú quý nên xưa có một chồi
Mây sớm dậy trời bay cửa trước
Chim hôm về tổ ruỗi thành ngoài
Quả vườn cá ruộng nhờ lộc đất
Cơm tượng canh lê trẻ dáng người
Lui được ngày nào ngày ấy khỏe
Cười ai ai hỡi chớ cười ai?
Bài thơ trên vang lên như một lời thách đố đầy ẩn ý. Khác với nhiều nho sĩ đương thời chọn cách thoái ẩn, Nguyễn Hàm Ninh chưa bao giờ trốn tránh hiện thực, dẫu cho thực tại ấy nhiều khi cay đắng khôn cùng. Bằng chứng là sau bao lần bị cách chức và phải trở về quê hương, mỗi khi được phục chức và triệu về triều, ông đều sẵn sàng nhận nhiệm vụ. Sống giữa thời buổi tao loạn, việc Nguyễn Hàm Ninh tìm đến con đường mai danh ẩn tích cũng chỉ là một sự lựa chọn bất đắc dĩ. Trong suốt cuộc đời làm quan, Nguyễn Hàm Ninh luôn giữ vững phẩm chất đạo đức và nhân cách trong sạch của mình. Ông sống không biết luồn cúi, nịnh bợ bất cứ ai, ngay cả với vua Tự Đức. Nỗi buồn sâu sắc nhất của Nguyễn Hàm Ninh trong những ngày làm quan tại kinh đô Huế là nỗi buồn của một bề tôi không thể can gián vua, của một vị quan không thể làm điều ích lợi cho dân. Song, đặt trong bối cảnh lịch sử đầy biến động lúc bấy giờ, những gì Nguyễn Hàm Ninh đã giữ được và làm được thực sự là điều đáng quý, đáng trân trọng vô ngần.
Cũng cần phải nói thêm rằng, có nhiều ý kiến nhận xét sinh thời Nguyễn Hàm Ninh là người vui tính, ham đùa nghịch, đa tình và phóng túng. Tuy nhiên, khi tìm hiểu kỹ cuộc đời, đặc biệt là các tác phẩm của ông, chúng ta sẽ thấy rằng ẩn sau vẻ ngoài dí dỏm và tinh nghịch ấy là cả một thế giới tâm hồn luôn day dứt, trăn trở trước thế sự nhân tình. Đó chính là một hình thức giải tỏa những u uẩn, bất lực chất chứa trong con người nhà thơ. Có lẽ, những tâm sự, nỗi niềm sâu kín ấy, khi giã biệt cõi đời, nhà thơ cũng đã mang theo xuống tận tuyền đài.
Sau 157 mùa thu xa cách, phần mộ của Nguyễn Hàm Ninh vẫn còn đó, lặng lẽ giữa đất trời. Ra đi từ quê hương, sau bao năm lận đận, trăn trở vì thế sự, ông lại trở về yên nghỉ vĩnh hằng trên mảnh đất chôn nhau cắt rốn. Thật là một cuộc đời trọn vẹn nghĩa hiếu trung. Chúng ta sẽ mãi tự hào về ông – một vị quan chính trực, thanh liêm, một con người tràn đầy lòng yêu nước thương dân, và một nhà thơ lớn đã có những đóng góp tích cực cho nền văn học nước nhà vào nửa đầu thế kỷ XIX.
Hoàng Minh
Nguồn: Nguồn bài viết















