Lê Văn Hành: Người khai sáng, kiến tạo làng Lệ Sơn

10

Khu lăng mộ và miếu thờ Lê Văn Hành, người có công lao vĩ đại khai phá, kiến tạo làng Lệ Sơn xưa (nay là xã Văn Hóa, Tuyên Hóa, Quảng Bình), vừa được công nhận là Di tích lịch sử cấp tỉnh. Vào cuối năm 1470, cụ Lê Văn Hành đã nhận định vùng đất Cồn Vang là nơi "sơn kỳ thủy tú", từ đó kêu gọi con cháu và dân chúng đến khai khẩn, lập ấp. Cụ tập trung phát triển nông nghiệp, xây dựng thủy lợi, quy hoạch làng xã và mời thầy về mở trường dạy học, đặt nền móng vững chắc cho Lệ Sơn. Với những đóng góp to lớn, cụ được dân làng suy tôn là Phúc thần, Thủy tổ dòng họ Lê, để lại di sản văn hóa và truyền thống hiếu học cho các thế hệ. Việc công nhận di tích không chỉ tri ân công đức của cụ mà còn là niềm tự hào, nguồn cổ vũ tinh thần cho sự phát triển của quê hương.

(QBĐT) – Ghi nhận công lao vĩ đại trong công cuộc khai phá, kiến tạo làng Lệ Sơn xưa, nay là xã Văn Hóa (Tuyên Hóa), khu lăng mộ và miếu thờ Lê Văn Hành vừa được công nhận là Di tích lịch sử cấp tỉnh.

Theo phả hệ của dòng họ Lê tại Lệ Sơn, cụ Lê Văn Hành có nguyên quán tại làng Yên Mô Thượng, tổng Yên Mô, huyện Yên Mô, thuộc trấn Thanh Hoa ngoại, nay thuộc xã Yên Mạc, huyện Yên Mô, tỉnh Ninh Bình.

Cuối năm 1470, trong vai trò phò tá vua Lê Thánh Tông mở rộng lãnh thổ về phương Nam, trên hành trình trở về Bắc, khi ngang qua cửa sông Linh Giang (sông Gianh), cụ Lê Văn Hành đã phóng tầm mắt về phía Tây. Nhận thấy dãy núi đá vôi trùng điệp xa xăm mang hình dáng ngọn Lèn Bảng quê nhà, cụ liền hạ lệnh cho thuyền ngược dòng để khảo sát. Với tầm nhìn chiến lược cùng sự am tường về phong thủy, cụ đã nhận định xứ Cồn Vang (tức Lệ Sơn xưa) là vùng đất “sơn kỳ thủy tú”, hội tụ đầy đủ yếu tố thuận lợi cho việc an cư lạc nghiệp. Từ đó, cụ quyết định đặt nền móng khai canh, lập ấp, định cư lâu dài cho hậu thế.

Vào thời kỳ này, triều đình nhà Hậu Lê đang triển khai chính sách khuyến khích dân cư di dân khai khẩn những vùng đất hoang hóa ở phương Nam. Cụ Lê Văn Hành đã trở về quê hương, kêu gọi con cháu, họ hàng, môn đệ cùng đông đảo dân chúng đến xứ Cồn Vang để khai khẩn, lập ấp. Trên đường tiến vào Bố Chính, cụ tiếp tục chiêu mộ thêm nhiều nhân đinh từ Ninh Bình và các khu vực lân cận như Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh, những người sau này trở thành thủy tổ của các dòng họ Bùi, Nguyễn, Trần tại làng Lệ Sơn. Sách Yên Mô sơn xuyên nhân vật bi ký (Bia ghi chép về sông núi và nhân vật đất Yên Mô), được soạn bởi Phạm Thận Duật vào năm Quý Dậu, Tự Đức thứ 26 (1873), có đoạn ghi chép: “Duy Lê tộc tòng cư Quảng Bình, Lệ Sơn thượng xã thử giai khả ký dã”[1], tạm dịch là: “Còn có họ Lê di cư vào xã Lệ Sơn Thượng ở Quảng Bình. Đó là điều cũng có thể chép lại.” Điều này càng khẳng định vai trò của cụ trong công cuộc mở đất.

Mộ và miếu thờ Lê Văn Hành.
Lăng mộ cụ Lê Văn Hành.

Với triết lý “dĩ nông vi bản”, cụ Lê Văn Hành đã tập trung vào công tác khai hoang, xây dựng đập thủy lợi để giữ nước, quy hoạch bờ vùng, bờ thửa cho đồng ruộng. Cụ đặc biệt chú trọng việc phát triển vườn tược, với quan niệm sâu sắc rằng “nhất mẫu trạch bằng bách mẫu ruộng” (một mẫu đất vườn có giá trị tương đương trăm mẫu đất ruộng), coi đây là nguồn thu nhập chính yếu và bền vững cho người dân. Sau một thập kỷ miệt mài khai sơn phá thạch, kiến tạo thôn xóm và ruộng đồng, vào năm 1481, cụ đã dâng biểu lên triều đình xin thành lập làng xã. Triều đình nhà Lê liền cử Cai tri châu Bố Chính Nguyễn Huy Tưởng cùng đoàn giám đạc đến xứ Cồn Vang để đo đạc ruộng đất, lập sổ địa bạ, đinh bạ và chính thức đặt tên cho xã. Cụ Lê Văn Hành và ông Nguyễn Huy Tưởng đã thống nhất đặt tên chữ cho xứ Cồn Vang là Lệ Sơn, mang ý nghĩa “hình núi vải”.

Sau khi hoàn thành công cuộc kiến tạo làng xã, cụ Lê Văn Hành đã thân hành đến xứ Trại Côi (nay là xã Quảng Tiên, TX. Ba Đồn) để mời cụ Trần Cảnh Huống về Lệ Sơn mở trường dạy học, góp phần vun đắp nền giáo dục cho thế hệ trẻ. Cụ có bảy người con trai và một con gái. Khi tuổi cao sức yếu, cụ sống cùng người con trai út là Lê Thuần Phác tại thôn Xuân Tổng, xã Lệ Sơn Thượng. Con gái út của cụ là Lê Thị Nại, một người phụ nữ đoan trang, thông minh, đã được quan Cai tri châu Bố Chính Lạng động hầu Nguyễn Huy Tưởng đem lòng cảm mến và kết duyên vợ chồng. Với công lao to lớn cùng những đóng góp không ngừng nghỉ cho quê hương, cụ Lê Văn Hành được dân làng tôn vinh là Phúc thần. Cụ còn được suy tôn là Thủy tổ dòng họ Lê và hoàn toàn xứng đáng được truy phong làm Bản thổ Thành hoàng làng Lệ Sơn. Tuy nhiên, trước lúc lâm chung, cụ đã có di nguyện cao cả là tiến cử con rể của mình làm Thành hoàng, bởi ông Nguyễn Huy Tưởng cũng đã có nhiều công sức đồng hành cùng cụ trong việc khai sinh làng xã. Vì lẽ đó, sau khi cụ Lê Văn Hành qua đời, Cai tri châu Bố Chính Lạng động hầu Nguyễn Huy Tưởng đã được suy tôn làm Thành hoàng làng và được triều Nguyễn sắc phong là Bản thổ Thành hoàng làng Lệ Sơn. Nghĩa cử cao đẹp và hiếm thấy này – nhạc phụ tiến cử con rể thay mình giữ vị trí Thành hoàng làng Lệ Sơn – đã trở thành một mỹ tục, một giai thoại được người đời muôn thuở ngợi ca.

Sau khi cụ Lê Văn Hành tạ thế, con cháu trong dòng tộc đã long trọng an táng cụ tại một trong những vị trí được xem là đẹp nhất vùng Lệ Sơn, tại khu lùm mộ tổ, nay thuộc thôn Phúc Tự. Lăng mộ cụ hướng về phía Tây Bắc, ban đầu chỉ được đắp bằng đất nhưng nhờ sự gìn giữ cẩn trọng của hậu duệ mà trải qua hàng trăm năm vẫn còn nguyên vẹn. Ghi nhận công lao vĩ đại của cụ, triều Nguyễn đã sắc phong “Khai canh lập ấp, Dực bảo trung hưng linh phù chi thần”. Về sau, phẩm hàm của cụ tiếp tục được gia tăng lên hàng “Đoan túc tôn thần”, đồng thời cho phép lập miếu thờ tại xứ Cây Trôi và ban cấp ruộng đất để lấy hoa lợi phục vụ công tác cúng tế hàng năm. Đến cuối triều Nguyễn, cụ được ban sắc phong danh hiệu “Tiền khai canh làng Lệ Sơn”[2].

Vào năm 2021, dòng tộc đã tiến hành trùng tu toàn diện phần mộ của cụ, bao gồm lăng mộ, am thờ và hệ thống tường rào khuôn viên, tất cả được kiến tạo hoàn toàn bằng đá xám Ninh Bình – quê hương của cụ. Khuôn viên lăng mộ có hình vuông, mỗi cạnh dài 10m. Theo ghi chép trong gia phả, miếu thờ cụ được xây dựng từ năm 1934 tại đồng Cây Trôi, với mặt hướng về phía Nam, thường được biết đến với tên gọi “Miệu họ Lê dưới”. Công trình được thiết kế theo phong cách kiến trúc truyền thống, bao gồm các hạng mục chính như cổng tam quan, tường bao, bình phong, sân tế, nhà bái đường, long đình hậu chẩm, tả vu và hữu vu… Đây là kiểu kiến trúc đặc trưng của thời Nguyễn, tương tự như các đền, miếu thờ truyền thống phổ biến ở khu vực phía Bắc Quảng Bình. Quần thể miếu thờ, dù không quá đồ sộ về quy mô, nhưng được bài trí hết sức đăng đối, thoáng đãng, toát lên vẻ cổ kính và thâm nghiêm.

Bằng công nhận mộ và miếu thờ Lê Văn Hành là di tích lịch sử cấp tỉnh.
Văn bản công nhận khu mộ và miếu thờ Lê Văn Hành là Di tích lịch sử cấp tỉnh.

Hiện tại, hậu duệ dòng họ Lê vẫn đang gìn giữ nhiều hiện vật quý giá mang đậm dấu ấn lịch sử, bao gồm 1 lư hương lớn bằng đá, 8 lư hương nhỏ bằng gốm, cùng với 1 lá cờ khai canh do vua Bảo Đại ban tặng cho dòng họ Lê vào năm 1940. Ngoài ra, còn có 8 sắc phong và 18 chỉ dụ từ các triều vua Minh Mạng, Thiệu Trị, Tự Đức, ban thưởng cho Tuần phủ Lê Duy Di, một hậu duệ xuất sắc của dòng họ Lê. Tuy nhiên, do sự khắc nghiệt của thời gian, biến cố lịch sử, đặc biệt là hai cuộc chiến tranh ác liệt, nhiều sắc phong mà các triều đại ban cho cụ Lê Văn Hành đã bị thất lạc. Lá cờ Khai canh cũng bị mục nát, hư hỏng nhiều chỗ, và một số sắc phong, chỉ dụ khác cũng không còn giữ được nguyên vẹn.

Dưới thời nhà Nguyễn, làng Lệ Sơn nổi tiếng là vùng đất học, đã sản sinh ra 26 vị cử nhân và 70 vị tú tài[3]. Kể từ những ngày đầu khai phá, lập làng cho đến nay, dòng dõi cụ Lê Văn Hành đã trải qua 19 thế hệ kế tiếp, không ngừng đóng góp công sức vào sự nghiệp xây dựng và phát triển quê hương, đất nước. Trong thời kỳ phong kiến, dòng họ Lê tự hào có 9 cử nhân, trong đó 1 người đỗ Hương cống dưới triều Hậu Lê và 8 người đỗ cử nhân dưới triều Nguyễn. Hậu duệ của Lê tộc làng Lệ Sơn luôn được các triều đại trọng dụng, giao phó nhiều chức vụ quan trọng và có những cống hiến to lớn cho quốc gia, tiêu biểu như: Tuần phủ Lê Duy Di, Tri phủ Lê Huệ, Án sát sứ Quảng Nam Lê Thời Tập….

Quần thể di tích lăng mộ và miếu thờ Lê Văn Hành là một minh chứng sống động, nơi lưu giữ sâu sắc những giá trị lịch sử và văn hóa của một dòng họ có nhiều nhân vật kiệt xuất được sử sách ghi nhận. Trong đó, cụ Lê Văn Hành nổi bật là người có công lao khai phá và kiến tạo nên làng Lệ Sơn xưa. Di tích không chỉ là nơi để con cháu tri ân bậc tiền nhân, mà còn là biểu tượng khắc ghi, đề cao tinh thần siêng năng, cần cù, hiếu học và khổ luyện thành tài. Nơi đây trở thành nguồn cổ vũ tinh thần vô giá, thôi thúc các thế hệ hậu duệ dòng tộc hôm nay và mai sau không ngừng học tập, tu dưỡng, rèn luyện để lập thân, lập nghiệp, góp phần kiến thiết và phát triển đất nước.

Để ghi nhận và tôn vinh những cống hiến to lớn của cụ Lê Văn Hành trong công cuộc khai khẩn và định hình làng Lệ Sơn, vào ngày 10/9/2024, UBND tỉnh đã ban hành Quyết định số 2585/QĐ-UBND, chính thức xếp hạng lăng mộ và miếu thờ cụ là Di tích lịch sử cấp tỉnh. Đây không chỉ là niềm vinh dự mà còn là sự tự hào sâu sắc của các thế hệ dòng tộc họ Lê, những người đã đồng lòng vun đắp, dựng xây và không ngừng làm rạng danh quê hương xứ sở.

 Trọng Đại-Hữu Danh

[1] Phạm Đình Nhân, Phạm Thận Duật toàn tập, NXB Văn hóa thông tin, Hà Nội, năm 2000, tr.522.

[2] Lê Trọng Đại, Trần Hữu Danh, Địa chí làng Lệ Sơn, NXB Thuận Hóa, Huế, 2014, tr300.

[3] Tỉnh ủy-HĐND-UBND tỉnh Quảng Bình, Lịch sử Quảng Bình; NXB Chính trị-Hành chính, Hà Nội, 2014, tr417.