Kiệt tác địa chí Ô châu cận lục của Tiến sĩ Dương Văn An, ra đời từ thế kỷ XVI, là nguồn tư liệu vô giá, khẳng định giá trị bền vững trong việc tìm hiểu lịch sử và văn hóa vùng đất từ Quảng Bình đến phía bắc Quảng Nam. Tác phẩm cung cấp cái nhìn toàn diện về địa danh làng xã, tiểu sử danh nhân, di tích lịch sử và phong tục tập quán độc đáo của khu vực, đặc biệt là phủ Tân Bình xưa (Quảng Bình ngày nay). Dương Văn An đã mô tả tỉ mỉ non nước, sản vật đặc trưng, các làng xã và ghi danh nhiều nhân vật kiệt xuất của địa phương. Nhờ đó, Ô châu cận lục không chỉ tái hiện sống động diện mạo và bản sắc văn hóa phong phú của vùng đất mà còn nuôi dưỡng lòng tự hào, góp phần vào sự phát triển bền vững của Quảng Bình.
(QBĐT) – Từ thế kỷ XVI cho đến ngày nay, kiệt tác địa chí Ô châu cận lục của học giả Dương Văn An luôn khẳng định giá trị bền vững, trở thành nguồn tư liệu quý báu không thể thiếu cho các nhà nghiên cứu khi tìm hiểu về vùng đất trải dài từ Quảng Bình, Quảng Trị, Huế, Đà Nẵng đến phía bắc Quảng Nam, cả trong dòng chảy lịch sử và diện mạo đương đại.
Mặc dù ra đời vào thế kỷ XVI dưới thời Lê-Mạc, Ô châu cận lục vượt qua giới hạn thời gian, hiển lộ tầm vóc quan trọng và tác động sâu sắc đến đời sống hiện tại. Tác phẩm này là chìa khóa mở ra cánh cửa lịch sử và văn hóa phong phú của khu vực, cho phép hậu thế truy nguyên tên làng xã, tiểu sử danh nhân, các di tích lịch sử, cũng như các phong tục tập quán độc đáo. Nhờ đó, chúng ta có thể tái hiện sống động diện mạo lịch sử và bản sắc văn hóa đặc trưng của vùng đất rộng lớn, đặc biệt là phủ Tân Bình xưa và tỉnh Quảng Bình ngày nay.
Soạn giả uyên bác của Ô châu cận lục chính là Tiến sĩ Dương Văn An, một danh nhân tài hoa của đất Quảng Bình, sinh năm 1514 tại làng Tuy Lộc, nay thuộc xã Lộc Thủy, huyện Lệ Thủy. Ông đăng quang danh hiệu Tiến sĩ khoa Đinh Mùi vào năm 1547, dưới triều Mạc Phúc Nguyên. Công trình biên soạn Ô châu cận lục của ông được thực hiện trong khoảng thời gian từ năm 1553 đến 1555.
![]() |
Theo lời tựa của Dương Văn An, tác phẩm khởi nguồn từ hai bản ghi chép chi tiết về phủ Tân Bình và phủ Triệu Phong, do hai nho sinh đồng hương biên soạn. Những bản thảo sơ khai này đã phác họa đầy đủ hình thế non sông, các sản vật đặc trưng, phong tục tập quán cùng những nhân vật tiêu biểu của hai vùng đất. Năm 1553, nhân dịp trở về quê cư tang, Dương Văn An tiếp cận hai bản thảo quý giá này. Với tinh thần trách nhiệm của một học giả, ông đã dày công khảo cứu thêm từ sử sách, kết hợp những điều mắt thấy tai nghe, tinh lọc bỏ đi những phần rườm rà, bổ sung các chi tiết sơ sài, và đặt tên mới là Ô châu cận lục, xem đây là tài liệu tham khảo cốt yếu cho bản thân.
Hoàn thành năm 1555, công trình nhuận sắc của Dương Văn An ban đầu chưa được khắc in. Tuy nhiên, giá trị nội tại của tác phẩm đã giúp nó lưu truyền rộng rãi qua các bản chép tay và được các thế hệ sau trọng dụng. Đến nay, đã có 7 bản dịch Ô châu cận lục được ấn hành. Đặc biệt, năm 2015, Sở Khoa học và Công nghệ Quảng Bình đã hợp tác với Nhà nghiên cứu Trần Đại Vinh, giảng viên Hán Nôm Khoa Ngữ văn, Trường Đại học Sư phạm, Đại học Huế, để tổ chức biên dịch, hiệu đính, bổ sung và cập nhật các địa danh hành chính, từ đó xuất bản một ấn bản hoàn chỉnh. Điều này một lần nữa khẳng định vị thế và tầm quan trọng của vùng đất và con người Quảng Bình trong mạch nguồn tư liệu của Ô châu cận lục.
Trong Ô châu cận lục, Dương Văn An đã mô tả tỉ mỉ non nước Quảng Bình với những danh thắng tiêu biểu như sau:
– Về núi non: Gồm Hoành Sơn, Lỗi Lôi, Đâu Mâu, Thần Đinh, An Mã, núi Sen.
– Về hang động: Nổi bật với động Chân Linh.
– Về sông ngòi và thủy vực: Bao gồm phá Nhật Lệ, Thiển Hải (biển cạn), sông Bình Giang, vực An Sinh, Cảng Lan, đìa Sen.
– Về các nguồn nước: Nổi bật là nguồn Cơ Sa, nguồn An Đại.
– Về các cửa biển: Bao gồm cửa Roòn, cửa Bố Chính, cửa Nhật Lệ.
Về sản vật đặc trưng của Quảng Bình, Dương Văn An đã mô tả một cách chi tiết và sống động: trầm hương quý giá từ huyện Khang Lộc; chiếu hoa mỹ lệ của làng Đại Phúc Lộc (Lệ Thủy); gối hoa tinh xảo ở trang Đại Hoàng, châu Bố Chính. Các sản vật từ vùng đầu nguồn phong phú với mít nài tại châu Bố Chính, mật ong rừng, và quả trám từ các nguồn thuộc huyện Khang Lộc, châu Bố Chính. Ngoài ra, ông còn ghi chép đầy đủ về sự đa dạng của các loại cá, thủy sản và hải sản tại sông, hồ, biển của Quảng Bình xưa.
Đáng chú ý, trong phần địa đồ, Dương Văn An đã thực hiện công trình thống kê tỉ mỉ, liệt kê danh sách các làng thuộc các huyện: Lệ Thủy với 33 làng và 1 thôn, Khang Lộc với 74 làng, và châu Bố Chính với 69 làng. Về sau, các nhà nghiên cứu tại Huế như Giáo sư Phan Đăng và Trần Đại Vinh đã kế thừa, dày công khảo cứu, đối chiếu các tên làng cũ với tên làng đã đổi để hiệu đính một cách toàn vẹn và chính xác bản đồ hành chính các làng xã Quảng Bình từ xưa đến nay.
Về các thiết chế đô thị và tín ngưỡng, tác phẩm ghi nhận sự hiện diện của thành Ninh Viễn và chợ Đại Phúc (thuộc Lệ Thủy). Các công trình tâm linh bao gồm Chùa Kính Thiên, Chùa Đại Phúc (Lệ Thủy), Chùa Hóa tại huyện Khang Lộc, cùng Đền thần Thủy Lan (Lệ Thủy).
Người Quảng Bình xưa tự hào với nhiều nhân vật kiệt xuất đã làm rạng danh vùng đất biên viễn của Đại Việt. Trong Ô châu cận lục, Dương Văn An đã khắc họa chân dung các thổ hào địa phương có công lớn trong việc phò vua, giúp nước, để lại tiếng thơm cho muôn đời sau, tiêu biểu như: Phan Mãnh, Phạm Thế Căng, Nguyễn Tử Hoan, Nguyễn Đa Cả, Thanh Quận công, Phạm Thượng tướng…
Về lĩnh vực khoa cử, Nguyễn Đình Cầu, người huyện Khang Lộc, đã hiển vinh đỗ khoa Hoằng tử vào năm Hồng Thuận thứ 5 (1513).
Trong hàng ngũ quan văn, tác phẩm ghi nhận: Trần Nguyên Diễn, Tri phủ họ Trần, Phạm Văn Các, Nguyễn Đình Bửu, Thái Nhân Nghĩa, Tri phủ họ Phạm, Phạm Tri Chỉ, Tri châu họ Phan, Trần Đình Hy, Trần Vỹ, Nguyễn Đình Toàn, Hoàng Công Đán, Phạm Cư đều là những người con của huyện Lệ Thủy; Phan Lại đến từ huyện Khang Lộc; cùng Tri châu họ Hồ, Tri huyện họ Nguyễn thuộc châu Bố Chính.
Về quan võ, danh sách bao gồm: Nguyễn Đình, Khống lãnh họ Hoàng (huyện Khang Lộc); Nguyễn Hùng, Phan Cư, Dương Triệt, Mai Trang, Hoàng Hiền (huyện Lệ Thủy); Phạm Tử Linh, Phạm Khắc Khoan (châu Bố Chính).
Các nội quan được nhắc đến là: Thượng xã họ Hoàng (huyện Khang Lộc); Võ Tri Giám, Giáp Cống, Phạm Phi Diệu, Nguyễn Túc (huyện Lệ Thủy).
Trong số các võ sĩ nổi bật: Nguyễn Bá Tề, Võ Nậu (huyện Khang Lộc); Hoàng Công Châu, Dương Liễu, Hoàng Công Sàng (huyện Lệ Thủy).
Giá trị vượt thời gian của Ô châu cận lục, dưới ngòi bút tài hoa của Dương Văn An, đã khắc họa một cách chân thực và toàn diện diện mạo của phủ Tân Bình xưa, tiền thân của Quảng Bình ngày nay. Tác phẩm đã minh chứng rằng, ngay từ thế kỷ XVI, vùng đất Quảng Bình đã sở hữu sự phong phú hiếm có về danh thắng, đa dạng về phong tục tập quán, cùng tinh thần thông minh, hiếu học và khí phách của con người. Nơi đây còn nổi bật với nếp sống đa dạng của cư dân miền núi và miền xuôi, cùng sự giàu có về tài nguyên và sản vật. Những giá trị lịch sử và văn hóa ấy không chỉ nuôi dưỡng lòng tự hào sâu sắc cho các thế hệ con cháu Quảng Bình hôm nay và mai sau về quê hương, đất nước mà còn là nguồn động lực mạnh mẽ để tiếp tục phát huy truyền thống tốt đẹp, góp phần vào sự nghiệp phát triển kinh tế – xã hội bền vững của địa phương.
Nối tiếp mạch nguồn của thể loại địa chí vùng đất như Ô châu cận lục, nhiều nhà nghiên cứu Quảng Bình đương đại đã kế thừa và phát huy, cho ra đời hàng loạt công trình địa chí cấp làng, xã, huyện, thành phố. Những tác phẩm này tiếp tục khẳng định và làm phong phú thêm vốn truyền thống đáng tự hào về tinh thần xây dựng và bảo vệ quê hương của người Quảng Bình, một giá trị vô cùng đáng trân trọng.
Trần Nguyễn Khánh Phong














