Bước Ngoặt Lịch Sử: Quyết Định Phượng Hoàng Tái Sinh
8
Bài báo kỷ niệm 80 năm thành lập Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân (VNTTGPQ) vào ngày 22/12/1944 tại rừng Trần Hưng Đạo, Cao Bằng, theo chỉ thị chiến lược của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Quyết định này nhằm chuyển đấu tranh từ chính trị đơn thuần sang kết hợp quân sự, trong đó chính trị vẫn giữ vai trò then chốt, đồng thời tập trung lực lượng để hình thành đội quân tiên phong. Dưới sự chủ trì của Đại tướng Võ Nguyên Giáp và Đội trưởng đầu tiên Hoàng Sâm, Đội VNTTGPQ gồm 34 chiến sĩ, đã tuyên thệ và đặt nền móng cho Quân đội nhân dân Việt Nam. Ngay sau khi thành lập, đội đã lập tức giành chiến thắng tại Phai Khắt và Nà Ngần, khởi đầu truyền thống "đã ra quân là đánh thắng". Rừng Trần Hưng Đạo hiện là Khu di tích Quốc gia đặc biệt, lưu giữ nhiều dấu ấn lịch sử quan trọng về sự kiện này.
(QBĐT) – Theo bước chân Tướng Hoàng Sâm lên non cao Tây Bắc, chúng tôi tìm về Khu di tích Quốc gia đặc biệt rừng Trần Hưng Đạo (xã Tam Kim, huyện Nguyên Bình, tỉnh Cao Bằng) – nơi cách đây tròn 80 năm, vào ngày 22/12/1944, Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân (VNTTGPQ) đã ra đời, với đồng chí Hoàng Sâm vinh dự là Đội trưởng đầu tiên.
>>> Bài 1: Đất khoa bảng… nuôi chí anh hùng
Dấu ấn lịch sử vang vọng
Dưới sự dẫn dắt tận tình của di sản viên Hoàng Thị Hoe, chúng tôi men theo lối mòn len lỏi vào sâu trong rừng Trần Hưng Đạo, một quần thể cổ thụ bạt ngàn đã chứng kiến biết bao thăng trầm lịch sử. Điểm đến không gì khác chính là nơi diễn ra sự kiện trọng đại khai sinh Đội VNTTGPQ.
Với vốn kiến thức lịch sử sâu sắc, chị Hoàng Thị Hoe đã diễn giải một cách thuyết phục: “Trước những chuyển biến mạnh mẽ của cách mạng Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã có một nhận định mang tầm chiến lược: Thời kỳ cách mạng hòa bình phát triển đã khép lại, nhưng thời điểm toàn dân khởi nghĩa vẫn chưa đến. Nếu chỉ duy trì hoạt động chính trị đơn thuần, phong trào sẽ khó lòng tiến xa. Tuy nhiên, việc phát động vũ trang khởi nghĩa ngay lập tức sẽ khiến địch tập trung đối phó. Do đó, cuộc đấu tranh cần chuyển từ hình thức chính trị sang quân sự, song chính trị vẫn giữ vai trò then chốt hơn quân sự. Cần phải tìm ra một hình thức phù hợp để thúc đẩy phong trào tiến lên mạnh mẽ.” Hình thức thích hợp đó, theo Người, chính là sự ra đời của “Đội quân giải phóng”.
Di tích lịch sử – nơi Đội VNTTGPQ được thành lập giữa lòng rừng Trần Hưng Đạo.
Chỉ thị thành lập Đội VNTTGPQ của Bác Hồ đã được ban hành, trong đó Người nhấn mạnh: “Tên Đội VNTTGPQ mang ý nghĩa chính trị trọng hơn quân sự. Đây là đội quân tuyên truyền. Để hành động đạt hiệu quả, về mặt quân sự, nguyên tắc cốt lõi là tập trung lực lượng. Do đó, theo chỉ thị mới của Đoàn thể, cần chọn lọc từ hàng ngũ du kích Cao-Bắc-Lạng những cán bộ, đội viên kiên quyết, hăng hái nhất và tập trung phần lớn vũ khí để hình thành đội chủ lực. Vì cuộc kháng chiến của chúng ta là cuộc kháng chiến toàn dân, đòi hỏi phải động viên và vũ trang toàn dân, nên trong khi tập trung lực lượng để thành lập đội quân tiên phong này, cần duy trì và phối hợp hành động với lực lượng vũ trang ở các địa phương, đồng thời hỗ trợ họ về mọi mặt. Ngược lại, đội quân chủ lực có nhiệm vụ dẫn dắt cán bộ vũ trang địa phương, hỗ trợ huấn luyện, cung cấp vũ khí nếu có thể, nhằm giúp các đội này ngày càng trưởng thành. Về chiến thuật: Áp dụng lối đánh du kích, bí mật, nhanh chóng, tích cực, linh hoạt “nay Đông mai Tây, lai vô ảnh, khứ vô tung”. Đội VNTTGPQ là đội quân “đàn anh”, mong chóng có những đội quân “đàn em” khác. Dù ban đầu quy mô còn nhỏ, nhưng tiền đồ của nó vô cùng vẻ vang. Nó là khởi điểm của giải phóng quân, đủ sức tiến quân từ Bắc chí Nam, trải khắp đất nước Việt Nam.”
Vào mười bảy giờ ngày 22/12/1944, nghi lễ thành lập Đội VNTTGPQ chính thức cử hành. Dưới lá cờ đỏ sao vàng năm cánh kiêu hãnh, trước hàng ngũ 34 chiến sĩ trang nghiêm, đồng chí Võ Nguyên Giáp đã đọc diễn văn trọng thể: “Nhiệm vụ mà đoàn thể ủy thác cho chúng ta là một nhiệm vụ hết sức quan trọng và nặng nề… Chúng ta sẽ chỉ rõ cho toàn dân con đường sống duy nhất là con đường đoàn kết, vũ trang đứng lên. Quân giải phóng sẽ chứng tỏ mình là đội quân của dân, của nước, tiên phong trên hành trình giải phóng dân tộc.”
Di sản viên Hoàng Thị Hoe chỉ cho chúng tôi gốc cây Sau Sau thân thẳng tắp, vươn cao ngạo nghễ giữa tầng không (một loài cây đặc hữu của rừng Trần Hưng Đạo-P.V), tọa lạc cạnh Nhà bia trung tâm. Giọng cô chùng xuống đầy cảm xúc: “34 chiến sĩ của Đội VNTTGPQ năm xưa, nay đều đã ra đi mãi mãi. Duy chỉ có gốc cây Sau Sau này vẫn sừng sững, trở thành nhân chứng vĩnh cửu của lịch sử. Bởi lẽ, tại buổi lễ năm ấy, chính đồng chí Võ Nguyên Giáp đã trang trọng treo lá cờ Tổ quốc lên ngọn cây Sau Sau này.”
Những nhân vật làm nên lịch sử
Trong số 34 đội viên đầu tiên của Đội VNTTGPQ, có 29 người là đồng bào dân tộc thiểu số và 5 người dân tộc Kinh, thể hiện sự đoàn kết vững chắc. Bên cạnh vai trò chỉ huy chung của đồng chí Võ Nguyên Giáp, Quảng Bình tự hào có hai đội viên ưu tú là Hoàng Sâm và Võ Văn Dánh (1905-1991), bí danh Luận, quê ở xã Đức Hóa (Tuyên Hóa). Đội VNTTGPQ được giao quyền lãnh đạo cho đồng chí Hoàng Sâm giữ chức Đội trưởng, đồng chí Xích Thắng đảm nhiệm Chính trị viên, còn đồng chí Hoàng Văn Thái phụ trách công tác tình báo và kế hoạch tác chiến.
Trở lại câu chuyện với ông Dương Mạc Thăng, nguyên Bí thư Tỉnh ủy Cao Bằng, con trai đồng chí Xích Thắng (Dương Mạc Thạch), trong những ngày chúng tôi lưu lại xã Minh Tâm, huyện Nguyên Bình – nơi đã trở thành khu di tích cấp tỉnh ghi dấu thời gian Chủ tịch Hồ Chí Minh từng sinh sống và làm việc đầu năm 1942. Ông Dương Mạc Thăng hồi tưởng: Thân phụ tôi từng khẳng định rằng, trong quá trình thành lập Đội VNTTGPQ, việc Đảng và Bác Hồ tin tưởng giao trọng trách Đội trưởng cho đồng chí Hoàng Sâm, Chính trị viên cho đồng chí Xích Thắng, cùng với Hoàng Văn Thái phụ trách tham mưu, tình báo, tác chiến, không phải là sự lựa chọn ngẫu nhiên, mà là quyết định mang tính lịch sử, đáp ứng yêu cầu cấp thiết của cách mạng lúc bấy giờ.
Lối vào rừng Trần Hưng Đạo.
Đội trưởng Hoàng Sâm, bên cạnh thiên bẩm về quân sự, còn sở hữu biệt tài thu phục nhân tâm. Theo quan điểm ngày nay, ông luôn thực hiện “bốn cùng” với đồng bào các dân tộc thiểu số vùng Tây Bắc: “cùng ăn, cùng ở, cùng làm, cùng nói tiếng đồng bào”. Đặc biệt, khi danh xưng Trần Sơn Hùng được nhắc đến, ngay cả bọn thổ phỉ dọc dãy biên giới Việt-Trung cũng phải tâm phục, khẩu phục. Quyết định của Đảng và Bác Hồ khi tin tưởng giao trọng trách cho Đội trưởng Hoàng Sâm đã hoàn toàn chính xác. Bởi lẽ, chỉ trong một thời gian ngắn sau khi thành lập, Đội VNTTGPQ dưới sự lãnh đạo của ông đã liên tiếp hạ gục hai đồn địch Phai Khắt, Nà Ngần, mở ra truyền thống “đã ra quân là đánh thắng” lẫy lừng của Quân đội nhân dân Việt Nam.
“Đồng chí Hoàng Sâm là một nhân vật huyền thoại của lịch sử. Đồng bào các dân tộc thiểu số tỉnh Cao Bằng, qua nhiều thế hệ, vẫn không thể nào quên những câu chuyện đời thực và cả những giai thoại về tướng Hoàng Sâm – Trần Sơn Hùng,” ông Bế Thanh Tịnh, Trưởng ban Tuyên giáo Tỉnh ủy Cao Bằng, nhận định. “Trong gần 5 năm hoạt động cách mạng tại Cao Bằng, đồng chí Hoàng Sâm đã thể hiện rõ phẩm chất và năng lực chính trị, quân sự xuất chúng của một vị tướng tài ba. Hoàng Sâm – Trần Sơn Hùng gần như có mặt ở mọi nơi khó khăn, gian khổ và hiểm nguy nhất vùng núi rừng Cao-Bắc-Lạng, góp phần kiến tạo và củng cố vững chắc, mạnh mẽ căn cứ địa cách mạng đầu tiên của cả nước. Đảng bộ và nhân dân Cao Bằng mãi mãi khắc ghi, trân trọng và biết ơn công lao to lớn của đồng chí Hoàng Sâm đối với phong trào cách mạng địa phương và cách mạng cả nước, luôn được các thế hệ cán bộ, chiến sĩ, đảng viên và quần chúng nhân dân hết mực yêu mến, cảm phục và kính trọng.”
Rừng Trần Hưng Đạo, một khu rừng nguyên sinh với diện tích gần 202ha, hiện lưu giữ 4 di tích lịch sử quan trọng: Địa điểm thành lập Đội VNTTGPQ; lán nghỉ và khu bếp ăn; nguồn nước sinh hoạt; cùng đỉnh Slam Cao – nơi đồng chí Võ Nguyên Giáp và Ban Chỉ huy Đội VNTTGPQ từng đặt trạm quan sát. Tại Nhà bia trung tâm, bốn mặt bia được khắc ghi những nội dung cốt yếu: Chỉ thị thành lập Đội VNTTGPQ; diễn biến buổi lễ thành lập; 10 lời thề danh dự do đồng chí Võ Nguyên Giáp tuyên đọc trong lễ tuyên thệ (mà sau này đã trở thành lời thề danh dự của Quân đội nhân dân Việt Nam); và danh sách 34 đội viên đầu tiên.