Chính phủ vừa công bố Nghị định số 2, một văn bản pháp lý quan trọng gồm 4 chương và 30 điều, nhằm thiết lập khuôn khổ toàn diện cho việc xử lý các hành vi vi phạm hành chính, bao gồm cả những hành vi đã hoàn tất và đang diễn ra.
![]() ![]() |
| Hình ảnh minh họa quá trình hướng dẫn công dân thực hiện nghĩa vụ nộp thuế trước bạ. (Ảnh: Phạm Hậu/TTXVN) |
Vào ngày 01/01/2026, Chính phủ chính thức ban hành Nghị định số 02/2026/NĐ-CP, quy định chi tiết về các biện pháp xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực phí và lệ phí.
Cấu trúc Nghị định bao gồm 4 chương và 30 điều, trình bày toàn diện các quy định về: phân loại hành vi vi phạm hành chính (bao gồm hành vi đã chấm dứt và đang diễn ra); các hình thức và mức xử phạt tương ứng; biện pháp khắc phục hậu quả áp dụng cho từng hành vi; đối tượng chịu hình thức xử phạt; thẩm quyền và mức phạt tiền cụ thể cho từng chức danh; thẩm quyền lập biên bản vi phạm hành chính; cùng với quy trình thực thi các hình thức xử phạt và biện pháp khắc phục hậu quả trong phạm vi quản lý phí và lệ phí.
Nội dung Nghị định tập trung xác định rõ các mức xử phạt đối với 9 nhóm hành vi vi phạm hành chính trọng yếu trong lĩnh vực phí và lệ phí, cụ thể bao gồm: vi phạm trong tổ chức thu phí, lệ phí; tự ý đặt ra và thu các khoản phí, lệ phí không có căn cứ pháp luật; thu phí, lệ phí vượt quá hoặc không đúng mức quy định; vi phạm quy định về miễn, giảm phí, lệ phí; sai phạm trong nghĩa vụ nộp phí, lệ phí của tổ chức thu; vi phạm về quản lý, sử dụng phí; không công khai hoặc công khai không đúng chế độ thu phí, lệ phí; vi phạm trong lập chứng từ thu phí, lệ phí; sai phạm trong kê khai phí, lệ phí; và vi phạm nghĩa vụ nộp phí, lệ phí của người nộp.
Quy định về mức xử phạt đối với các hành vi tự ý thiết lập và thu phí, lệ phí hoặc thu phí, lệ phí sai quy định
Đối với các hành vi vi phạm liên quan đến việc tự đặt và thu các khoản phí, lệ phí trái phép, hoặc thu phí, lệ phí không đúng mức theo quy định, Nghị định đã chi tiết hóa các mức phạt như sau:
1. Áp dụng mức phạt tiền đối với hành vi tự đặt và thu các loại phí, lệ phí:
a) Phạt tiền từ 2.000.000 đồng đến 4.000.000 đồng khi số tiền vi phạm ở mức dưới 10.000.000 đồng;
b) Phạt tiền từ 4.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng khi số tiền vi phạm trong khoảng từ 10.000.000 đồng đến dưới 30.000.000 đồng;
c) Phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 15.000.000 đồng khi số tiền vi phạm trong khoảng từ 30.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng;
d) Phạt tiền từ 15.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng khi số tiền vi phạm trong khoảng từ 50.000.000 đồng đến dưới 100.000.000 đồng;
đ) Phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 80.000.000 đồng khi số tiền vi phạm trong khoảng từ 100.000.000 đồng đến dưới 300.000.000 đồng;
e) Phạt tiền từ 80.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng khi số tiền vi phạm đạt ngưỡng từ 300.000.000 đồng trở lên.
2. Áp dụng mức phạt tiền đối với hành vi thu phí, lệ phí không đúng mức phí, lệ phí theo quy định:
a) Phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 2.000.000 đồng khi số tiền vi phạm ở mức dưới 10.000.000 đồng;
b) Phạt tiền từ 2.000.000 đồng đến 6.000.000 đồng khi số tiền vi phạm trong khoảng từ 10.000.000 đồng đến dưới 30.000.000 đồng;
c) Phạt tiền từ 6.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng khi số tiền vi phạm trong khoảng từ 30.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng;
d) Phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng khi số tiền vi phạm trong khoảng từ 50.000.000 đồng đến dưới 100.000.000 đồng;
đ) Phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 60.000.000 đồng khi số tiền vi phạm trong khoảng từ 100.000.000 đồng đến dưới 300.000.000 đồng;
e) Phạt tiền từ 60.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng khi số tiền vi phạm đạt ngưỡng từ 300.000.000 đồng trở lên.
Các biện pháp khắc phục hậu quả bao gồm:
a) Buộc tổ chức hoặc cá nhân vi phạm phải hoàn trả toàn bộ số tiền phí, lệ phí đã thu sai quy định (tại khoản 1 và khoản 2 Điều này) cho đối tượng đã nộp. Trong trường hợp không thể xác định được người nộp để hoàn trả, toàn bộ số tiền này sẽ được sung công vào ngân sách nhà nước;
b) Buộc tổ chức thu phí, lệ phí thực hiện đầy đủ trách nhiệm theo quy định của Luật Phí và lệ phí.
Chế tài xử phạt đối với các vi phạm quy định về miễn, giảm phí, lệ phí
Nghị định quy định rõ mức xử phạt tiền đối với hành vi cố tình kê khai không đúng sự thật nhằm hưởng các ưu đãi miễn, giảm phí, lệ phí. Cụ thể, mức phạt được ấn định là 20% trên tổng số tiền được miễn, giảm trái quy định, với mức tối thiểu là 500.000 đồng và tối đa là 50.000.000 đồng.
Đối với hành vi thực hiện miễn, giảm phí, lệ phí sai quy định, Nghị định áp dụng các mức phạt sau:
a) Phạt tiền từ 500.000 đồng đến 1.000.000 đồng đối với hành vi vi phạm có số tiền chênh lệch ở mức dưới 10.000.000 đồng;
b) Phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng đối với hành vi vi phạm có số tiền chênh lệch trong khoảng từ 10.000.000 đồng đến dưới 30.000.000 đồng;
c) Phạt tiền từ 3.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng đối với hành vi vi phạm có số tiền chênh lệch trong khoảng từ 30.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng;
d) Phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng đối với hành vi vi phạm có số tiền chênh lệch trong khoảng từ 50.000.000 đồng đến dưới 100.000.000 đồng;
đ) Phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng đối với hành vi vi phạm có số tiền chênh lệch trong khoảng từ 100.000.000 đồng đến dưới 300.000.000 đồng;
e) Phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng đối với hành vi vi phạm có số tiền chênh lệch đạt ngưỡng từ 300.000.000 đồng trở lên.
Các biện pháp khắc phục hậu quả bao gồm:
a) Buộc nộp vào ngân sách nhà nước toàn bộ số tiền phí, lệ phí phát sinh từ hành vi khai báo gian dối để được miễn, giảm, hoặc từ hành vi miễn, giảm không đúng quy định gây thất thoát cho ngân sách. Khoản tiền này bao gồm cả tiền chậm nộp phí, lệ phí (nếu có) theo quy định của Luật Quản lý thuế.
b) Buộc hoàn trả tiền phí, lệ phí cho người nộp đã bị miễn, giảm không đúng quy định. Trường hợp không thể xác định đối tượng để hoàn trả, số tiền này sẽ được nộp toàn bộ vào ngân sách nhà nước.
Chế tài xử phạt đối với các hành vi vi phạm quy định về kê khai phí, lệ phí
Các hình thức xử phạt áp dụng cho hành vi vi phạm quy định về kê khai phí, lệ phí được Nghị định chi tiết hóa như sau:
1. Áp dụng hình thức cảnh cáo đối với các trường hợp:
a) Lần đầu vi phạm về việc khai báo chậm thời hạn theo quy định của pháp luật về phí, lệ phí và pháp luật quản lý thuế;
b) Lần đầu vi phạm về việc kê khai không chính xác hoặc không đầy đủ các hạng mục trên tờ khai phí, lệ phí.
2. Phạt tiền từ 500.000 đồng đến 1.000.000 đồng đối với hành vi vi phạm tái diễn (từ lần thứ hai trở đi) tại khoản 1 nêu trên.
3. Phạt tiền từ 3.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng đối với hành vi không thực hiện kê khai phí, lệ phí theo quy định.
Quy định xử phạt đối với hành vi vi phạm nghĩa vụ nộp phí, lệ phí của người nộp
Nghị định áp dụng hình thức cảnh cáo đối với trường hợp người nộp phí, lệ phí có hành vi chậm trễ trong việc thực hiện nghĩa vụ nộp, nhưng không gây ra sự thiếu hụt số tiền phí, lệ phí phải nộp.
Đối với hành vi vi phạm nghĩa vụ nộp phí, lệ phí không đúng thời hạn của người nộp, gây ra sự thiếu hụt số tiền phải nộp, các mức phạt tiền cụ thể được quy định như sau:
a) Phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 2.000.000 đồng khi số tiền vi phạm ở mức dưới 10.000.000 đồng;
b) Phạt tiền từ 2.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng khi số tiền vi phạm trong khoảng từ 10.000.000 đồng đến dưới 30.000.000 đồng;
c) Phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 7.500.000 đồng khi số tiền vi phạm trong khoảng từ 30.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng;
d) Phạt tiền từ 7.500.000 đồng đến 15.000.000 đồng khi số tiền vi phạm trong khoảng từ 50.000.000 đồng đến dưới 100.000.000 đồng;
đ) Phạt tiền từ 15.000.000 đồng đến 40.000.000 đồng khi số tiền vi phạm trong khoảng từ 100.000.000 đồng đến dưới 300.000.000 đồng;
e) Phạt tiền từ 40.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng khi số tiền vi phạm đạt ngưỡng từ 300.000.000 đồng trở lên.
Biện pháp khắc phục hậu quả: Buộc người vi phạm phải nộp vào ngân sách nhà nước toàn bộ số tiền phí, lệ phí phát sinh do không tuân thủ nghĩa vụ nộp, bao gồm cả tiền chậm nộp phí, lệ phí theo quy định của Luật Quản lý thuế (nếu có).
Nghị định này sẽ chính thức có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 01 năm 2026.
Đối với các hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực phí và lệ phí đã phát sinh trước thời điểm Nghị định này có hiệu lực nhưng chỉ được phát hiện hoặc đang trong quá trình xem xét, giải quyết sau đó, việc xử lý sẽ căn cứ vào Nghị định của Chính phủ có hiệu lực tại thời điểm hành vi vi phạm được thực hiện.
Trường hợp các quyết định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực phí và lệ phí đã được ban hành hoặc đã hoàn tất thi hành trước thời điểm Nghị định này có hiệu lực, nhưng cá nhân, tổ chức bị xử phạt vẫn còn khiếu nại, việc giải quyết khiếu nại sẽ được thực hiện theo quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực phí và lệ phí có hiệu lực tại thời điểm ban hành quyết định xử phạt.
Theo Vietnam+















