Từ tháng 1/2026, Việt Nam sẽ triển khai một loạt chính sách quan trọng có tác động sâu rộng đến nhiều lĩnh vực. Nổi bật là việc tăng mức lương tối thiểu vùng từ 250.000 đến 350.000 đồng/tháng (trung bình 7,2%) theo Nghị định 293/2025/NĐ-CP, cùng với quy định chi tiết về hồ sơ, thủ tục đăng ký lao động theo Nghị định 318/2025/NĐ-CP. Chính sách miễn thuế sử dụng đất nông nghiệp cũng được gia hạn đến hết năm 2030 thông qua Nghị định 292/2025/NĐ-CP, nhằm hỗ trợ nông nghiệp và nông dân. Ngoài ra, các quy định mới về cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính và tiêu chí chuyển giao công nghệ đường sắt cũng sẽ có hiệu lực, góp phần đảm bảo thực thi pháp luật và nâng cao năng lực nội địa.
Bước sang tháng 1/2026, bức tranh pháp lý Việt Nam sẽ được bổ sung hàng loạt chính sách quan trọng, tác động sâu rộng đến nhiều lĩnh vực. Nổi bật trong số đó là các quy định mới liên quan đến lao động, việc làm, chính sách thuế sử dụng đất nông nghiệp, cùng với các chế tài xử phạt vi phạm hành chính.
![]() ![]() |
| Công nhân sản xuất tại Khu công nghiệp Du Long. (Ảnh: TTXVN phát) |
Trong tháng 1/2026, nhiều chính sách mới có hiệu lực, nổi bật là các chính sách liên quan đến lao động, việc làm, thuế đất nông nghiệp; xử phạt vi phạm hành chính…
Điều chỉnh Mức lương tối thiểu: Nâng cao quyền lợi người lao động theo hợp đồng
Theo quy định tại Nghị định số 293/2025/NĐ-CP, kể từ ngày 1/1/2026, mức lương tối thiểu áp dụng cho người lao động làm việc theo hợp đồng lao động sẽ tăng từ 250.000 đến 350.000 đồng/tháng so với các mức được quy định tại Nghị định 74/2024/NĐ-CP trước đó.
Nghị định số 293/2025/NĐ-CP đã ban hành quy định về mức lương tối thiểu tháng và mức lương tối thiểu giờ, áp dụng cụ thể cho đối tượng người lao động có giao kết hợp đồng lao động.
Phạm vi áp dụng của Nghị định bao gồm:
Thứ nhất, người lao động làm việc theo hợp đồng lao động, tuân thủ các quy định của Bộ luật Lao động.
Thứ hai, người sử dụng lao động theo định nghĩa của Bộ luật Lao động, bao gồm các doanh nghiệp thành lập theo Luật Doanh nghiệp; các cơ quan, tổ chức, hợp tác xã, hộ gia đình, cá nhân có thuê mướn hoặc sử dụng lao động theo thỏa thuận; và các cơ quan, tổ chức, cá nhân khác có liên quan đến việc triển khai các mức lương tối thiểu được quy định trong Nghị định này.
Cụ thể, theo Nghị định 293/2025/NĐ-CP, mức lương tối thiểu tháng tại bốn vùng được điều chỉnh như sau: Vùng 1 tăng 350.000 đồng, từ 4.960.000 đồng/tháng lên 5.310.000 đồng/tháng; Vùng 2 tăng 320.000 đồng, từ 4.410.000 đồng/tháng lên 4.730.000 đồng/tháng; Vùng 3 tăng 280.000 đồng, từ 3.860.000 đồng/tháng lên 4.140.000 đồng/tháng; Vùng 4 tăng 250.000 đồng, từ 3.450.000 đồng/tháng lên 3.700.000 đồng/tháng.
Đối với mức lương tối thiểu theo giờ, tại Vùng 1 tăng từ 23.800 đồng/giờ lên 25.500 đồng/giờ; Vùng 2 tăng từ 21.200 đồng/giờ lên 22.700 đồng/giờ; Vùng 3 tăng từ 18.600 đồng/giờ lên 20.000 đồng/giờ; và Vùng 4 tăng từ 16.600 đồng/giờ lên 17.800 đồng/giờ.
Tổng thể, các mức lương tối thiểu vừa nêu ghi nhận sự gia tăng từ 250.000 đồng đến 350.000 đồng/tháng, tương ứng với tỷ lệ tăng bình quân 7,2% so với các mức lương tối thiểu hiện hành theo Nghị định 74/2024/NĐ-CP.
Về nguyên tắc áp dụng mức lương tối thiểu, Nghị định quy định rõ: Mức lương tối thiểu tháng được xem là ngưỡng lương thấp nhất làm căn cứ để thỏa thuận và chi trả lương cho người lao động nhận lương theo tháng. Mức này phải đảm bảo rằng tiền lương theo công việc hoặc chức danh của người lao động, khi làm việc đủ thời giờ làm việc bình thường trong tháng và hoàn thành định mức lao động hoặc công việc đã thỏa thuận, không được thấp hơn mức lương tối thiểu tháng.
Tương tự, mức lương tối thiểu giờ là mức thấp nhất làm căn cứ thỏa thuận và chi trả lương cho người lao động nhận lương theo giờ. Mức này đảm bảo tiền lương theo công việc hoặc chức danh của người lao động, khi làm việc trong một giờ và hoàn thành định mức lao động hoặc công việc đã thỏa thuận, không được thấp hơn mức lương tối thiểu giờ.
Đối với các trường hợp người lao động nhận lương theo tuần, theo ngày, theo sản phẩm hoặc lương khoán, tổng mức lương của các hình thức này khi quy đổi theo tháng hoặc theo giờ phải đảm bảo không thấp hơn mức lương tối thiểu tháng hoặc mức lương tối thiểu giờ tương ứng.
Việc quy đổi mức lương theo tháng hoặc theo giờ được thực hiện dựa trên thời giờ làm việc bình thường do người sử dụng lao động lựa chọn theo quy định pháp luật lao động, cụ thể như sau:
Mức lương quy đổi theo tháng được tính bằng mức lương theo tuần nhân với 52 tuần chia cho 12 tháng; hoặc mức lương theo ngày nhân với số ngày làm việc bình thường trong tháng; hoặc tổng mức lương theo sản phẩm, lương khoán thực hiện trong thời giờ làm việc bình thường trong tháng.
Mức lương quy đổi theo giờ được tính bằng mức lương theo tuần, theo ngày chia cho số giờ làm việc bình thường trong tuần, trong ngày; hoặc tổng mức lương theo sản phẩm, lương khoán chia cho tổng số giờ làm việc trong thời giờ làm việc bình thường để sản xuất sản phẩm, thực hiện nhiệm vụ khoán.
Nghị định này sẽ chính thức có hiệu lực thi hành kể từ ngày 1/1/2026.
![]() ![]() |
| Người lao động làm việc tại khu công nghiệp Tân Phú Trung, huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh. (Ảnh: Hồng Đạt/TTXVN) |
Quy định mới về cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính: Đảm bảo thực thi pháp luật nghiêm minh
Chính phủ đã ban hành Nghị định số 296/2025/NĐ-CP, thiết lập các quy định chi tiết về việc cưỡng chế thi hành các quyết định xử phạt vi phạm hành chính.
Nghị định này trình bày rõ ràng các nguyên tắc, trình tự và thủ tục áp dụng các biện pháp cưỡng chế nhằm thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính, quyết định tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính, quyết định áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả do vi phạm hành chính gây ra (trong trường hợp không ra quyết định xử phạt), cũng như việc hoàn trả kinh phí cho cơ quan đã thực hiện biện pháp khắc phục hậu quả khẩn cấp. Nghị định cũng quy định chi phí cưỡng chế, trách nhiệm và biện pháp bảo đảm thi hành quyết định cưỡng chế.
Nguyên tắc cốt lõi là mọi hoạt động cưỡng chế chỉ được thực hiện khi có quyết định cưỡng chế bằng văn bản hợp pháp.
Nghị định đã cụ thể hóa các nguyên tắc áp dụng biện pháp cưỡng chế. Theo đó, việc cưỡng chế chỉ được tiến hành khi có quyết định cưỡng chế bằng văn bản, do người có thẩm quyền quy định tại Điều 87 Luật Xử lý vi phạm hành chính và các Nghị định chi tiết khác ban hành. Người có thẩm quyền ra quyết định cưỡng chế có trách nhiệm ban hành quyết định này dựa trên quá trình theo dõi, đôn đốc hoặc đề xuất từ người có thẩm quyền xử phạt.
Người có thẩm quyền quyết định áp dụng một hoặc nhiều biện pháp cưỡng chế được quy định tại khoản 2 Điều 86 Luật Xử lý vi phạm hành chính, nếu việc áp dụng một biện pháp không đủ để đảm bảo thi hành. Quyết định áp dụng biện pháp cưỡng chế cụ thể phải căn cứ vào nội dung, tính chất, mức độ, điều kiện thi hành và tình hình thực tế tại địa phương, đồng thời phải đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức bị cưỡng chế cũng như các bên liên quan khác trong quá trình thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính hoặc quyết định áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả.
Nghị định này sẽ chính thức có hiệu lực thi hành từ ngày 1/1/2026.
Gia hạn miễn thuế sử dụng đất nông nghiệp: Chính sách hỗ trợ chiến lược cho nông nghiệp và nông dân
Chính phủ đã ban hành Nghị định số 292/2025/NĐ-CP, ngày 6/11/2025, nhằm quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Nghị quyết số 216/2025/QH15, ngày 26/6/2025 của Quốc hội về việc kéo dài thời hạn miễn thuế sử dụng đất nông nghiệp. Nghị định này sẽ chính thức có hiệu lực thi hành từ ngày 1/1/2026.
Nghị định số 292/2025/NĐ-CP tập trung vào việc xác định rõ đối tượng được miễn thuế, hạng đất tính thuế và thời hạn áp dụng chính sách miễn thuế sử dụng đất nông nghiệp.
Theo Nghị định, các đối tượng được hưởng chính sách miễn thuế sử dụng đất nông nghiệp sẽ thực hiện theo quy định tại Điều 1 Nghị quyết số 55/2010/QH12, ngày 24/11/2010 của Quốc hội (đã được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị quyết số 28/2016/QH14, ngày 11/11/2016 của Quốc hội), cụ thể như sau:
Toàn bộ diện tích đất nông nghiệp phục vụ mục đích nghiên cứu, sản xuất thử nghiệm; diện tích đất trồng cây hàng năm theo quy định của pháp luật về đất đai; và diện tích đất làm muối sẽ được miễn thuế sử dụng đất nông nghiệp.
Toàn bộ diện tích đất nông nghiệp được Nhà nước giao hoặc công nhận quyền sử dụng đất cho các hộ gia đình thuộc diện nghèo cũng sẽ được miễn thuế sử dụng đất nông nghiệp. Việc xác định hộ nghèo sẽ dựa trên chuẩn hộ nghèo do Chính phủ ban hành. Trong trường hợp Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương có quy định riêng về chuẩn hộ nghèo áp dụng tại địa phương, thì sẽ căn cứ vào chuẩn hộ nghèo đó để xác định đối tượng.
![]() ![]() |
| (Ảnh minh họa. Nguồn: TTXVN) |
Chính sách miễn thuế sử dụng đất nông nghiệp cũng áp dụng cho toàn bộ diện tích đất nông nghiệp đối với các đối tượng sau đây:
Hộ gia đình, cá nhân được Nhà nước giao, công nhận quyền sử dụng đất để sản xuất nông nghiệp, cũng như những người nhận chuyển quyền sử dụng đất nông nghiệp (bao gồm cả nhận thừa kế, tặng cho quyền sử dụng đất nông nghiệp).
Hộ gia đình, cá nhân là thành viên của hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã sản xuất nông nghiệp; các hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư đã nhận đất giao khoán ổn định từ hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã, nông trường quốc doanh, lâm trường quốc doanh; và các hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư nhận đất giao khoán ổn định từ công ty nông, lâm nghiệp để phục vụ sản xuất nông nghiệp theo đúng quy định của pháp luật.
Hộ gia đình, cá nhân trực tiếp sản xuất nông nghiệp đã góp quyền sử dụng đất nông nghiệp của mình để thành lập hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã sản xuất nông nghiệp theo quy định của Luật Hợp tác xã.
Miễn thuế sử dụng đất nông nghiệp đối với diện tích đất nông nghiệp mà Nhà nước giao cho các tổ chức kinh tế, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị-xã hội, tổ chức xã hội-nghề nghiệp, đơn vị sự nghiệp và các đơn vị khác đang trực tiếp sử dụng đất để sản xuất nông nghiệp. Tuy nhiên, đối với diện tích đất nông nghiệp mà Nhà nước giao cho các tổ chức nêu trên quản lý nhưng không trực tiếp sử dụng cho mục đích sản xuất nông nghiệp mà lại giao cho các tổ chức, cá nhân khác nhận thầu theo hợp đồng để sản xuất nông nghiệp, thì sẽ thực hiện thu hồi đất theo quy định của Luật Đất đai. Trong thời gian Nhà nước chưa thu hồi đất, các đối tượng này phải nộp 100% thuế sử dụng đất nông nghiệp.
Thời gian miễn thuế sử dụng đất nông nghiệp, theo quy định của Nghị định này, sẽ kéo dài từ ngày 1/1/2026 đến hết ngày 31/12/2030.
Quy định mới về hồ sơ, trình tự, thủ tục đăng ký lao động: Tối ưu hóa quản lý thị trường lao động
Chính phủ đã ban hành Nghị định số 318/2025/NĐ-CP, ngày 12/12/2025, nhằm quy định chi tiết một số điều của Luật Việc làm liên quan đến đăng ký lao động và hệ thống thông tin thị trường lao động.
Với cấu trúc gồm 4 chương và 25 điều, Nghị định này đi sâu vào quy định chi tiết về đăng ký lao động và hệ thống thông tin thị trường lao động, cụ thể hóa một số điều khoản của Luật Việc làm số 74/2025/QH15. Các nội dung chính bao gồm: thông tin đăng ký lao động và xây dựng cơ sở dữ liệu về người lao động; hồ sơ, trình tự, thủ tục và địa điểm đăng ký lao động; việc tiếp nhận, quản lý, khai thác, kết nối, chia sẻ và sử dụng cơ sở dữ liệu về người lao động (theo khoản 6 Điều 17 Luật số 74/2025/QH15); cũng như phát triển hệ thống thông tin và thông tin thị trường lao động (theo khoản 3 Điều 19, khoản 3 Điều 20 Luật số 74/2025/QH15).
Nghị định này cũng đã quy định cụ thể về hồ sơ, trình tự, thủ tục đăng ký lao động. Theo đó, Nghị định đã phân loại rõ ràng ba nhóm đối tượng chính được yêu cầu thực hiện đăng ký lao động:
Người lao động thuộc đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc, theo quy định tại khoản 1 Điều 2 Luật Bảo hiểm xã hội số 41/2024/QH15.
Người lao động hiện đang có việc làm nhưng không thuộc diện tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc.
Người thất nghiệp, được định nghĩa là người đang không có việc làm, đang tích cực tìm kiếm việc làm và sẵn sàng làm việc.
Đáng chú ý, các đối tượng là cán bộ, công chức, viên chức và lực lượng vũ trang nhân dân sẽ không phải thực hiện việc đăng ký hoặc điều chỉnh thông tin đăng ký lao động theo các quy định của Nghị định này.
Nghị định này sẽ chính thức có hiệu lực thi hành từ ngày 1/1/2026.
![]() ![]() |
| (Ảnh: Trần Việt/TTXVN) |
Thiết lập tiêu chí chuyển giao công nghệ đường sắt: Nâng tầm năng lực nội địa
Chính phủ đã ban hành Nghị định 319/2025/NĐ-CP, ngày 12/12/2025, quy định chi tiết về nội dung, trình tự, thủ tục và thẩm quyền triển khai các cơ chế, chính sách đặc thù, đặc biệt trong lĩnh vực phát triển khoa học, công nghệ, nghiên cứu, ứng dụng và chuyển giao công nghệ đối với các công trình trọng điểm, dự án quan trọng quốc gia thuộc lĩnh vực đường sắt, theo các Nghị quyết của Quốc hội.
Nghị định này sẽ chính thức có hiệu lực thi hành từ ngày 1/1/2026.
Về tiêu chí lựa chọn tổ chức, doanh nghiệp Việt Nam được giao nhiệm vụ hoặc đặt hàng tiếp nhận chuyển giao công nghệ phục vụ các dự án đường sắt, Nghị định quy định rõ: Một tổ chức, doanh nghiệp Việt Nam đủ điều kiện phải đồng thời đáp ứng các tiêu chí sau: Là tổ chức, doanh nghiệp được thành lập hợp pháp theo quy định của pháp luật Việt Nam; có chức năng, nhiệm vụ được xác định rõ ràng (đối với tổ chức) hoặc có đăng ký ngành nghề kinh doanh, giấy phép hoạt động (đối với doanh nghiệp) phù hợp với lĩnh vực công nghệ sẽ được chuyển giao; sở hữu quy mô nhà xưởng và cơ sở vật chất đáp ứng yêu cầu tiếp nhận, lắp đặt máy móc, thiết bị, dây chuyền công nghệ.
Đồng thời, đơn vị này phải có tiềm lực tài chính vững mạnh hoặc khả năng huy động vốn đầy đủ để thanh toán, quyết toán các chi phí liên quan đến việc nhận chuyển giao công nghệ; sở hữu đội ngũ chuyên gia, cán bộ kỹ thuật và người lao động có năng lực quản lý, trình độ chuyên môn, nghiệp vụ cao, đảm bảo khả năng tiếp nhận, làm chủ và vận hành công nghệ được chuyển giao; có kế hoạch huy động nguồn lực chi tiết nhằm đáp ứng yêu cầu của quá trình chuyển giao công nghệ; có cam kết rõ ràng về việc hoàn thành việc tiếp nhận, làm chủ và vận hành công nghệ; có kinh nghiệm hợp tác quốc tế trong lĩnh vực chuyển giao công nghệ; không thuộc diện đang trong quá trình giải thể hoặc bị thu hồi giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp, đăng ký kinh doanh; không thuộc trường hợp mất khả năng thanh toán theo quy định của pháp luật về phá sản; và có giá chuyển giao công nghệ không vượt quá dự toán kinh phí đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt trong dự án đường sắt.
Nghị định cũng nêu rõ, chủ đầu tư dự án đường sắt có trách nhiệm xác định các yêu cầu cụ thể đối với từng tiêu chí nêu trên, nhằm đảm bảo sự phù hợp với loại hình công nghệ được chuyển giao phục vụ dự án đường sắt.
Theo TTXVN/Vietnam+


















