Miền Cát: Vẻ đẹp kỳ vĩ và bí ẩn sa mạc

15

Bài bút ký là dòng cảm xúc sâu lắng về vùng đất Bảo Ninh (Quảng Bình), nơi những triền cát trắng thấm đẫm ký ức chiến tranh và tinh thần kiên cường của con người. Tác giả đã dẫn dắt người đọc qua câu chuyện của "Em bé Bảo Ninh" Trương Ngọc Hương, người từ thuở nhỏ đã dũng cảm tiếp đạn dưới làn bom và sau này bất chấp hiểm nguy ra biển phục vụ kháng chiến, mang trên mình những vết sẹo và nỗi đau đồng đội. Bài viết còn khắc họa những hy sinh thầm lặng trên các cồn cát, nơi từng là tuyến đường giao liên và chứng kiến bao câu chuyện bi thương về những người đã ngã xuống. Tuy nhiên, vượt lên quá khứ đau thương, những đồi cát giờ đây đã hồi sinh, mang theo màu xanh của sự sống và tiếng cười, biểu trưng cho sự vươn lên và niềm hy vọng.

(QBĐT) – “Có nơi nào như ở đây
Mù trời trắng cát. Gió cát say
Cát như đàn ngựa tung bờm nắng
Hóa gió phi lao bạc tháng ngày
Dưới cát: Bao người thân của tôi
Hồn trăng gió xoáy thổn thức đời
Và bao người nữa còn trên cát
Một bước lên, lại nửa bước lùi”
 
Trong buổi sớm cuối tuần an tĩnh, từ độ cao tầng mười hai, tầm mắt tôi bao quát toàn cảnh thành phố chìm trong màn sương mờ ảo. Những cành cây khẳng khiu vươn mình, vẽ nên trên nền trời xám u những nét chấm phá đầy tinh tế và sâu lắng. Tôi khẽ nhấp ngụm cà phê, để khúc du ca của mùa đang nhẹ nhàng ngân vang, lan tỏa trong tâm hồn.
 
Rời khỏi khối kiến trúc cao tầng, tôi đưa xe lướt qua cầu Nhật Lệ – cây cầu uyển chuyển ẩn hiện trong làn sương khói mờ ảo, kết nối hai bờ phường Đồng Mỹ và bán đảo Bảo Ninh. Đến lưng chừng cầu, tôi bất chợt dừng lại. Khoảnh khắc ấy, dòng ký ức như ào ạt ùa về, chạm khẽ vào tâm trí, đánh thức những nỗi niềm bất chợt.
 
– “D. ơi, Anh Nguyễn Trọng Tạo đây!”
 
– “ Ôi anh vào khi nào?”
 
-“Vừa mới, chút nữa gặp gỡ mấy anh em văn nghệ Quảng Bình tí cho vui nhé!”
 
Tôi cùng anh dạo bước dọc triền cát trắng, cảm nhận từng hạt cát mịn màng, mát lạnh khẽ lún sâu dưới mỗi bước chân. Giữa không gian khoáng đạt ấy, tôi bất chợt quay sang anh, cất lời bông đùa: “Có cả đất trời mà chẳng chốn nương thân. Có niềm vui thì nhỏ bé, mà nỗi buồn lại mênh mông.”
 
Anh Tạo khẽ tiếp lời, như ngân nga một khúc ca: “Mà thuyền vẫn sông mà xanh vẫn cỏ. Mà đời vẫn say mà hồn vẫn gió. Có thương có nhớ có khóc có cười. Có cái chớp mắt đã nghìn năm trôi”.
 
Dứt lời, anh Tạo cất tiếng cười sang sảng, rồi ứng tác ngay: “Một năm là mấy cuộc chơi. Một đời đâu dễ kết người mỹ nhân”. “Khoan đã, D. đừng nhúc nhích!” Anh Tạo nhanh chóng rút chiếc máy ảnh từ trong túi, hướng về phía tôi và ghi lại khoảnh khắc ấy, phía xa xa là biển trời mênh mông xanh ngút tầm mắt.
***
Biển vẫn vẹn nguyên màu xanh thẳm, trời vẫn bao la, chỉ có sắc cát dường như trầm lắng hơn với nỗi buồn mênh mang. Anh Tạo đã ra đi, một cuộc hành trình vĩnh viễn, kéo dài vô tận. Chúng tôi không biết bao giờ sẽ tái ngộ anh ở một cõi khác, một thế giới khác. Thế nhưng, những vần thơ của anh vẫn mãi ngân nga, điềm nhiên và sâu sắc như chính cuộc đời anh đã sống: “Tôi ra đi đừng nghĩ vắng tôi rồi. Tôi ra đi vì yêu quá cuộc đời. Chưa phải thế nhưng mà nó thế”.
 
Hôm nay, tôi cùng nhà thơ Lý Hoài Xuân chuẩn bị cuộc gặp gỡ với một nhân chứng lịch sử đặc biệt, người được nhân dân trìu mến gọi là “Em bé Bảo Ninh”, tên thật là Trương Ngọc Hương. Dù được gọi là “em bé”, nhưng nay ông đã ở cái tuổi “thất thập cổ lai hy”. Việc tìm đến nhà ông chẳng hề khó khăn, chỉ cần đi qua cầu khoảng 200 mét rồi rẽ trái, hỏi “nhà Em bé Bảo Ninh ở đâu?”, bất cứ ai cũng niềm nở chỉ lối.

Minh họa: Minh Quý
Minh họa: Minh Quý

Vừa trông thấy tôi và nhà thơ Lý Hoài Xuân, “Em bé Bảo Ninh” Trương Ngọc Hương đã reo vang: “Ôi nhà thơ “Nhật Lệ trăng huyền thoại”, răng hôm nay thầy lạc đến nhà em vậy?”. Tôi bất ngờ khi nghe ông gọi nhà thơ Lý Hoài Xuân là thầy, và được biết thêm rằng nhà thơ từng là giảng viên một vài tiết học chính trị cho “Em bé Bảo Ninh” tại trường Đảng.

 
Trở lại với câu chuyện về nhân vật lịch sử “Em bé Bảo Ninh”, ông bắt đầu kể về ngày 7 tháng 2 năm 1965. Đó là một ngày xuân tràn đầy sức sống, khi người dân Đồng Hới, bao gồm cả quê hương Bảo Ninh của ông, đang hân hoan hưởng ứng phong trào Tết trồng cây chắn cát, chắn sóng ven biển do Bác Hồ phát động. Bỗng chốc, hàng chục máy bay Mỹ ồ ạt tấn công, dội bom xuống thị xã Đồng Hới và các vùng phụ cận. Làng cát Bảo Ninh lập tức chìm trong màn khói bom mịt mù.
 
Lúc bấy giờ, Trương Ngọc Hương chưa đầy 15 tuổi, đang trú ẩn trong hầm cát cùng những người bạn nhỏ. Trận chiến diễn ra ác liệt từ sáng đến trưa, với sự kiên cường chống trả của bộ đội và dân quân ta trước máy bay Mỹ. Từ dưới hầm, cậu bé Trương Ngọc Hương nhận thấy trận địa đang thiếu đạn. Thông thường, nhiệm vụ tiếp đạn do người lớn đảm nhiệm, nhưng trong hoàn cảnh nguy cấp ấy, cậu bé Hương đã dũng cảm lao ra khỏi hầm để nắm bắt tình hình rõ hơn. Chỉ trong phút chốc, thân hình nhỏ bé của cậu đã vượt qua làn khói bom mù mịt và cát bụi, tiếp cận một kho chứa đạn gần nhà mình, cõng từng thùng đạn về tiếp tế cho trận địa.
 
Và cứ thế, trong nhiều ngày sau đó, cậu bé Trương Ngọc Hương cùng các bạn nhỏ làng cát Bảo Ninh đã miệt mài bò nhoài trên cát, ẩn mình sau những cồn cát để rồi băng vụt qua làn bom đạn, tiếp tế cho bộ đội. Lớn thêm vài tuổi, nhưng quê hương vẫn chưa ngớt tiếng súng chiến tranh. Cửa biển Nhật Lệ dày đặc thủy lôi và tàu chiến địch chực chờ, rình rập mối đe dọa. Là một người con của biển, sinh ra và lớn lên từ lòng biển cả, ông yêu biển quê mình hơn ai hết – biển là nhà, biển cũng là quê hương. Bất chấp hiểm nguy từ thủy lôi và tàu chiến, dù biết sinh mạng có thể bị tước đoạt bất cứ lúc nào, ông vẫn cùng các đoàn viên giong buồm ra khơi, mang hải sản về cho hợp tác xã, góp phần phục vụ cuộc chiến trường kỳ.
 
Thật không may, trong một lần ra khơi, ông và các đoàn viên đã bị địch bắt giữ và đày ải ra đảo Cù Lao Chàm. Giữa trùng khơi sóng gió, ông cùng các thành viên trong đoàn phải chịu đựng sự đánh đập, tra khảo dã man suốt ba, bốn tháng trời. Sau đó, họ được thả tự do khi quân địch nhận ra rằng họ không hề mang theo súng đạn hay bất kỳ vũ khí nào, ngoài một chiếc quần cộc và cái nón cời. Hơn một nửa số bạn bè thân thiết của ông sau này đã anh dũng hy sinh trong các cuộc chiến bảo vệ quê hương. Riêng ông, may mắn hơn, đã sống sót trở về.
 
Tôi lặng người khi ánh mắt chạm vào những vết sẹo nâu sẫm hằn sâu trên cơ thể ông. Trong khoảnh khắc ấy, đôi mắt ông rưng rưng, chực trào xúc động khi hồi tưởng về những người đồng đội đã khuất, những người con làng cát kiên cường, dũng cảm của một thời máu lửa.
 
Tôi khẽ rời ngôi nhà nhỏ của “Em bé Bảo Ninh”, mang theo dư âm của những vần thơ đã khắc họa chân dung ông: “Em bé Bảo Ninh/Bên bờ Nhật Lệ/Như cánh hoa nhỏ/Nở bên chiến hào/Như chim đầu ngõ/Hót mừng xôn xao…”.
 
Tôi men theo triền cát ngược lên cao, từ độ ấy, những động cát trải dài bất tận hiện ra trước mắt tôi, hùng vĩ như bầu vú mẹ thiêng liêng. Làn gió biển mang theo vị mặn mòi, dịu dàng vuốt ve khuôn mặt, khiến tôi thấm thía hơn câu nói: “Một bước lên, lại nửa bước lùi”.
 
“Năm xưa, chính trên cồn cát này, những người như chú – khi ấy chỉ vừa tròn 14-15 tuổi – đã cùng bộ đội mở một con đường giao liên trên cát, hộ tống đồng bào Vĩnh Linh và vùng phía Nam Quảng Trị mới giải phóng sơ tán ra miền Bắc. Cả đoàn người gồng gánh nhau, vượt qua những động cát dài 50-60km, đi ròng rã cả ngày lẫn đêm, đến kiệt sức, rã rời chân tay mới tới trạm giao liên ở vùng Bảo Ninh này. Rồi những ngày cùng bạn bè đi trồng dương chắn cát, chú cũng nghe người dân kể lại rằng, cứ cách vài cây số lại có một trạm giao liên mật phục dưới những động cát. Hằng đêm, các dân quân du kích thay phiên nhau trực gác. Một đêm trăng thanh gió mát, một anh quân dân hẹn hò người yêu, ngồi lắng nghe sóng biển, tận hưởng những giây phút bình yên hiếm hoi và mơ ước về một ngày đất nước không còn cảnh đạn nổ bom rơi. Nhưng thật không may, hôm sau anh ấy đã dẫm phải mìn và hy sinh ngay trên động cát này. Điều đau lòng hơn là một năm sau, cô người yêu quân dân của anh ấy cũng bị bom bắn trúng khi đang đứng gác tại trạm giao liên. Họ đã sống bên nhau và nằm xuống cùng nhau trên những đụn cát quê hương, máu của họ đã thấm sâu vào cát, vào từng ngọn cỏ lông chông, từng cây xương rồng nở hoa trên cát, đầy quật cường và khát vọng. Cũng chính trên dải cát quê hương này, người anh trai con bác của chú cũng bị bom đánh chìm dưới nước, miệng ngậm đầy cát. Thuở ấy nghèo khó, không có gạo ngậm, thì đành ngậm cát mà ra đi….”
 
Nhà thơ Lý Hoài Xuân bất chợt nấc lên nghẹn ngào. Ông vốc một nắm cát trên tay, để mặc những hạt cát nhỏ bé ấy lọt qua kẽ tay, rơi xuống chân mình, tựa như đang trút cạn bao nỗi niềm. Rồi ông khẽ ngâm: “Tôi và cát, cát và tôi/Chở che nhau suốt một thời đạn bom/Lẫn trong cái mất cái còn/Biết bao máu thấm những cồn cát kia/Những ai ngày ấy ra đi/Có ai nhớ cát những khi xa rồi”.
 
Tôi và nhà thơ Lý Hoài Xuân cứ thế bước đi trong lặng lẽ trên những triền cát trắng, mỗi người mang một nỗi niềm riêng. Thi thoảng, chúng tôi bắt gặp những luống khoai non xanh mướt, hay nghe thấy những giọng cười trong trẻo, hồn nhiên của đoàn người đang trượt cát. Từ trong thương đau một thời, giờ đây cát đã biết mỉm cười, cát đã biết nở hoa.
 
Riêng tôi, một cảm xúc dâng trào khó tả khi câu thơ vang vọng trong tâm trí: “… đi lên đồi cát mịn/Biển ngoài kia nơi tiếng sóng đang reo/Cát trắng quá nên đêm xuống chậm/Hay Bảo Ninh mãi vẫn ban ngày?”
     Bút ký của Trác Diễm

Nguồn: Nguồn bài viết