Hiến pháp và cuộc sống: Hành trình lịch sử và tác động sâu rộng đến mỗi người
Ngày Pháp luật Việt Nam 9/11 kỷ niệm bản Hiến pháp đầu tiên được Quốc hội khóa I phê chuẩn vào ngày 9/11/1946, đánh dấu nền tảng pháp lý của quốc gia độc lập. Trải qua 80 năm với năm bản Hiến pháp cùng nhiều lần sửa đổi, mỗi văn bản đều là tiếng vọng đáp trả những biến chuyển sâu sắc của vận mệnh đất nước. Từ thời kỳ giành độc lập, chia cắt, thống nhất đến đổi mới và hội nhập, các bản Hiến pháp luôn thể hiện tinh thần "nhìn thẳng vào sự thật", tuân thủ nguyên tắc "dựa vào hoàn cảnh thực tế". Nguyên tắc này giúp Hiến pháp theo sát sự sinh hoạt năng động, luôn tiến triển của Nhân dân, đảm bảo tính phù hợp và củng cố các giá trị nền tảng, góp phần vào sự phát triển bền vững của Việt Nam.
QTO – Ngày 9/11 được xác lập là Ngày Pháp luật Việt Nam, một dấu mốc lịch sử gợi nhớ bản Hiến pháp đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, được Quốc hội khóa I phê chuẩn vào ngày 9/11/1946. Trải qua 80 năm, mỗi bản Hiến pháp đều là tiếng vọng đáp trả những biến chuyển sâu sắc của vận mệnh quốc gia.
Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 đã chính thức hóa rằng: “Ngày 9/11 hằng năm là Ngày Pháp luật nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.” Đây là ngày mà Hiến pháp đầu tiên, nền tảng pháp lý của một quốc gia độc lập, được Quốc hội khóa I thông qua. Ngay trong buổi trình dự án trước Quốc hội, ông Đỗ Đức Dục, ủy viên thuyết trình của Ban dự thảo, đã định hình một tầm nhìn vĩnh cửu cho mọi Hiến pháp tương lai: “Hiến pháp phải là cái gì theo sát sự sinh hoạt linh động, luôn tiến triển của Nhân dân.” Nhìn lại năm bản Hiến pháp cùng những lần sửa đổi xuyên suốt dòng chảy lịch sử, lời khẳng định ấy càng hiển hiện sự đúng đắn.
Chỉ một ngày sau Tuyên ngôn Độc lập lịch sử, vào ngày 3/9/1945, tại phiên họp đầu tiên của Chính phủ lâm thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhấn mạnh sự cấp thiết: “Trước chúng ta đã bị chế độ quân chủ chuyên chế cai trị, rồi đến chế độ thực dân không kém phần chuyên chế, nên nước ta không có hiến pháp… Chúng ta phải có một hiến pháp dân chủ.” Trong bối cảnh “ngàn cân treo sợi tóc” của một dân tộc vừa thoát ách nô lệ, đoàn kết toàn dân tộc trở thành kim chỉ nam tối thượng. Ủy ban dự thảo Hiến pháp được thành lập ngày 20/9/1945, với sự góp mặt đáng chú ý của cố vấn Vĩnh Thụy, người mà chưa đầy một tháng trước còn là Hoàng đế Bảo Đại, thể hiện rõ tinh thần đại đoàn kết quốc gia.
Bản Hiến pháp được thông qua ngày 9/11/1946, với 240 trên 242 đại biểu tán thành, đã phản ánh rõ nét hoàn cảnh lịch sử ấy. Lời nói đầu xác định nhiệm vụ trọng tâm: “Nhiệm vụ của dân tộc ta trong giai đoạn này là bảo toàn lãnh thổ, giành độc lập hoàn toàn và kiến thiết quốc gia trên nền tảng dân chủ”. Nguyên tắc then chốt được đặt ra là “đoàn kết toàn dân, không phân biệt giống nòi, gái trai, giai cấp, tôn giáo”. Văn bản không đi sâu vào con đường kinh tế cụ thể, mà tập trung bảo đảm quyền lợi làm ăn chính đáng của nhân dân. Điều 12 khẳng định: “Quyền tư hữu tài sản của công dân Việt Nam được bảo đảm”. Tại nghị trường, các đại biểu cũng xem xét văn bản dưới lăng kính của thời cuộc. Đại biểu Đào Trọng Kim mong muốn một chính quyền đủ năng lực “ứng phó mau lẹ với thời cuộc luôn luôn biến chuyển”.
Trong khi đó, đại biểu Khuất Duy Tiến nhắc nhở rằng “tự do của cá nhân không được trái với quyền lợi tối cao của Tổ quốc”. Bế mạc kỳ họp, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: “Bản Hiến pháp đó chưa hoàn toàn nhưng nó đã làm ra theo một hoàn cảnh thực tế.” Người còn nhấn mạnh sâu sắc: “Hiến pháp đã nêu một tinh thần đoàn kết chặt chẽ giữa các dân tộc Việt Nam”.
Tuy nhiên, chỉ bốn mươi ngày sau, tiếng súng kháng chiến toàn quốc bùng nổ vào đêm 19/12/1946. Bản Hiến pháp lịch sử này chưa kịp ban bố chính thức. Suốt chín năm kháng chiến trường kỳ, Chính phủ vẫn dựa vào tinh thần và nguyên tắc cốt lõi của nó để ban hành sắc lệnh và tổ chức chính quyền.
Ngày 31/12/1959, Quốc hội đã nhất trí thông qua bản Hiến pháp thứ hai, còn gọi là Hiến pháp sửa đổi, do Chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp tục đứng đầu Ban dự thảo. Bản Hiến pháp này có nhiều điểm khác biệt căn bản so với bản năm 1946. Sự khác biệt ấy không nằm ở người dẫn dắt, mà ở hoàn cảnh lịch sử. Nếu năm 1946, nhiệm vụ cấp bách là giữ nước và đoàn kết mọi tầng lớp, chưa xác định rõ con đường phát triển kinh tế thì năm 1959, đất nước đã bị chia cắt. Miền Bắc cần xác lập con đường riêng để vừa xây dựng chủ nghĩa xã hội, vừa trở thành hậu phương vững chắc cho công cuộc đấu tranh thống nhất đất nước.
Sự chuyển hướng rõ rệt ấy được thể hiện ngay trong văn bản. Lời nói đầu Hiến pháp 1959 viết: “Quốc hội ta cần sửa đổi bản Hiến pháp năm 1946 cho thích hợp với tình hình và nhiệm vụ mới.” Điều 9 khẳng định nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa “tiến dần từ chế độ dân chủ nhân dân lên chủ nghĩa xã hội”. Dù Điều 11 vẫn ghi nhận bốn hình thức sở hữu, bao gồm cả “hình thức sở hữu của nhà tư sản dân tộc”, định hướng cải tạo dần để tiến lên đã được xác định. Tổng kết đợt thảo luận, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết: “Nhân dân ta đã hăng hái sử dụng quyền dân chủ của mình để xây dựng Hiến pháp của mình”. Hai bản Hiến pháp tuy khác nhau về nội dung cụ thể, nhưng đều tuân thủ một nguyên tắc chung: Dựa vào hoàn cảnh thực tế.
Ngày 18/12/1980, Quốc hội khóa VI đã thông qua Hiến pháp của nước Việt Nam thống nhất. Ủy ban dự thảo do Chủ tịch Ủy ban Thường vụ Quốc hội Trường Chinh đứng đầu. Bản Hiến pháp này mang theo niềm tin mãnh liệt của ngày toàn thắng: Cả nước sẽ cùng đi lên chủ nghĩa xã hội theo mô hình kế hoạch hóa tập trung. Kinh tế quốc doanh và tập thể giữ vai trò chủ đạo. Quyền sở hữu của công dân bị thu hẹp vào thu nhập, của cải để dành, nhà ở, tư liệu sinh hoạt. Tuy nhiên, thực tiễn đời sống lại diễn ra theo một hướng khác. Những năm tháng tem phiếu, hàng dài người xếp hàng trước cửa hàng mậu dịch, đồng lương không đủ sống đã minh chứng rằng văn bản ấy đã không theo kịp thực tế…
Chính từ sự nhìn nhận lại thực tế khắc nghiệt ấy, một bước ngoặt đã hình thành. Ông Phan Diễn, thư ký của ông Trường Chinh, nhớ lại hình ảnh ông Trường Chinh ngồi “trầm ngâm suy nghĩ” khi lần đầu nghe về hiện tượng nông dân “khoán chui”. Tại Đại hội VI của Đảng năm 1986, Tổng Bí thư Trường Chinh, người từng chủ trì bản Hiến pháp 1980, đã đưa ra yêu cầu lịch sử “nhìn thẳng vào sự thật, đánh giá đúng sự thật, nói rõ sự thật”. Tinh thần đổi mới ấy đã trở thành nền tảng cho bản Hiến pháp mới. Chủ tịch Ủy ban sửa đổi Hiến pháp Võ Chí Công yêu cầu văn bản “phải thể hiện đường lối đổi mới toàn diện của Đảng, đẩy mạnh đổi mới về kinh tế và chính trị”.
Ngày 15/4/1992, Hiến pháp mới đã được thông qua. Chủ tịch Quốc hội Lê Quang Đạo khẳng định: “Sự thay đổi quan trọng nhất của Hiến pháp 1992 là xác định rõ về chế độ kinh tế”. Trong những thay đổi đó, quyền tư hữu đã chạm sâu sắc nhất vào đời sống mỗi gia đình. Điều 58 không chỉ trao công dân quyền sở hữu nhà ở, tư liệu sinh hoạt mà còn cả “tư liệu sản xuất, vốn và tài sản khác trong doanh nghiệp”.
Điều 23 Hiến pháp 1992 kiên định: “Tài sản hợp pháp của cá nhân, tổ chức không bị quốc hữu hóa.” Ông lý giải một cách giản dị: “Nếu có một chế độ kinh tế tốt, sản xuất phát triển làm cho dân giàu, nước mạnh thì chế độ chính trị sẽ đứng vững”. Sau bốn mươi sáu năm, tinh thần của Điều 12 Hiến pháp 1946 đã trở lại. Sự trở về này không phải là một bước lùi, mà là kết quả của một bước tiến quan trọng trong tư duy đổi mới.
Những lần sửa đổi và bản Hiến pháp tiếp theo tiếp tục bám sát nhịp sống năng động của đất nước. Ngày 25/12/2001, Quốc hội sửa đổi Hiến pháp 1992, lần đầu tiên đưa vào Điều 2 khái niệm nhà nước pháp quyền: “Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân”.
Với nguyên tắc nhà nước quản lý xã hội bằng pháp luật và chính nhà nước phải tuân thủ khuôn khổ pháp luật. Ngày 28/11/2013, chương về quyền con người, quyền công dân của bản Hiến pháp 2013 đã trở lại vị trí Chương II như bản Hiến pháp 1946. Ngày 16/6/2025, sau hơn 280 triệu lượt góp ý, Hiến pháp 2013 được sửa đổi một số điều để chính quyền địa phương còn 2 cấp, tỉnh và xã, đúng với 2 cấp từng có Hội đồng nhân dân năm 1946.
Năm bản Hiến pháp, mỗi bản mang đậm dấu ấn của một thời kỳ lịch sử: thời giành độc lập, thời chia cắt, thời thống nhất, thời đổi mới, và thời hội nhập. Có lúc văn bản đi trước đời sống, có lúc đời sống buộc văn bản phải thay đổi. Nhưng mỗi khi dám nhìn thẳng vào thực tế, Hiến pháp lại tìm về những giá trị nền tảng đã được thiết lập từ buổi đầu.
Tám mươi năm trước, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhận định bản Hiến pháp đầu tiên “đã làm ra theo một hoàn cảnh thực tế”. Lời nói ấy không chỉ dành cho năm 1946, mà còn là chìa khóa để giải mã ý nghĩa của mọi bản Hiến pháp về sau. Và mỗi năm, đến ngày 9/11 lại nhắc nhở chúng ta về tầm quan trọng của nguyên tắc đó.
TS. Nguyễn Quang Thắng






