Giếng cổ: Bảo tồn, phát huy giá trị di sản văn hóa

33

Giếng làng, đặc biệt là các giếng cổ ở Quảng Bình, không chỉ là nguồn nước thiết yếu mà còn là biểu tượng văn hóa tâm linh sâu sắc, phản ánh ký ức, truyền thống và định hình bản sắc của làng quê Việt Nam. Bài báo phân loại giếng thành giếng mạch phun, giếng đất và giếng mạch ngầm, nhấn mạnh vai trò cung cấp nước sạch, tiện lợi cho sinh hoạt và sản xuất nông nghiệp từ thuở khai hoang.

Ngoài giá trị vật chất, giếng cổ còn là không gian văn hóa chung, nơi gắn kết cộng đồng, ươm mầm tình cảm và mang ý nghĩa tâm linh sâu sắc về sự thịnh vượng, được ví như "trái tim của làng" hay "long mạch." Tuy nhiên, trước làn sóng hiện đại hóa, nhiều giếng đang bị bỏ hoang, dẫn đến nguy cơ bào mòn giá trị di sản.

Vì vậy, việc bảo tồn các giếng cổ thông qua vệ sinh, tu sửa và khôi phục là vô cùng cần thiết để giữ gìn hồn cốt của di sản và những giá trị văn hóa, tinh thần mà chúng mang lại.

(QBĐT) – Giếng làng, đặc biệt là các giếng cổ, luôn hiện hữu như những tấm gương lịch sử, phản chiếu vô vàn ký ức và truyền thống xa xưa. Ngay cả trong bối cảnh đời sống đương đại, những giếng cổ này vẫn giữ vững vị thế là công trình mang giá trị văn hóa tâm linh sâu sắc của mỗi làng quê, định hình bản sắc văn hóa đặc trưng của Quảng Bình qua nhiều thế hệ, kiên cố tồn tại trên dải đất duyên hải miền Trung Việt Nam.
 
>>>Bài 1: Giếng cổ trong đời sống văn hóa làng xã
 
Khái quát về Giếng cổ
 
Nước luôn là yếu tố thiết yếu cho sinh hoạt và sản xuất của cộng đồng làng xã. Do đó, từ thuở khai hoang lập ấp, dù ở bất kỳ địa hình nào, cư dân các làng, thôn đều tiến hành đào giếng hoặc tiếp nhận, tu bổ các giếng cổ của người Chăm để lại. Dưới góc độ mạch nguồn, giếng cổ có thể được phân loại như sau:
 
Giếng mạch phun: Đây là những giếng có mạch nước chảy mạnh, tự phun trào lên khỏi mặt đất, loại giếng này khá hiếm. Tiêu biểu có giếng Con Cá tại làng Võ Xá, xã Võ Ninh (Quảng Ninh). Giếng nằm ở thôn Thượng, ngay cạnh Quốc lộ 1, với mạch nước ngầm từ động cát phía Đông tuôn chảy, rồi vọt lên khỏi mặt cát, tạo thành dòng nước trong veo, mạnh mẽ. Trước đây, nước chảy tự do tạo thành vũng, thành dòng. Ngày nay, để khai thác hiệu quả, người dân đã xây tường bao quanh và tạo hình đầu cá, nước phun ra từ miệng cá, nên gọi là giếng Con Cá. Dòng nước này chảy liên tục từ mạch ngầm, không bao giờ cạn, minh chứng cho sự tận dụng nguồn tài nguyên quý giá này của cư dân vùng cát xưa kia cho sinh hoạt và canh tác nông nghiệp.
 
Ngoài giếng Con Cá, làng Kim Nại (xã An Ninh, Quảng Ninh) cũng sở hữu một mạch nước từ dãy Trường Sơn phía Tây chảy về. Người dân nơi đây tin rằng đây là “Đất tam long” (ba con rồng) và đã kiến tạo ba giếng: hai giếng mạch ngầm và một giếng mạch phun lộ thiên, mang tên giếng Mội (nghĩa là nước chảy ào ạt). Những giếng này được kè đá chắc chắn bên trong và xây gạch kiên cố phía trên.
 Giếng cổ Lương Yến, thị trấn Quán Hàu (Quảng Ninh).
Giếng cổ Lương Yến, thị trấn Quán Hàu (Quảng Ninh).
Giếng đất: Đây là loại giếng mà mạch nước không rõ ràng hoặc không có mạch, thường được coi là ao làng hay hồ chứa nước tự nhiên. Giếng đất phổ biến ở những làng khan hiếm nước ngọt như Trần Xá, Chính Cung, Hữu Niên, Diên Trường (xã Hàm Ninh, Quảng Ninh), Lương Yến (Quán Hàu, Quảng Ninh). Đặc trưng của chúng là có đường kính rộng hàng chục mét, đào sâu xuống lòng đất, đóng vai trò như hồ chứa nước ngọt. Làng Lương Yến có giếng Ba đường kính khoảng 15m, bờ giếng được đắp gờ đất nện chặt. Vào mùa khô hạn, giếng này là nguồn nước cứu sinh cho gia súc. Giếng đất ở làng Hữu Niên, xã Hàm Ninh lại có hình vuông, mỗi cạnh khoảng 20m. Theo truyền thuyết dân gian, đây là giếng của người Chăm còn sót lại, có thành bao kiên cố để bảo đảm vệ sinh, vì nó cung cấp nước uống cho cả người và vật nuôi.
 
Giếng mạch ngầm: Giếng mạch ngầm có thể chia thành hai loại: giếng nước ngọt và giếng nước lợ. Đây là loại giếng phổ biến nhất, với mạch nước chảy ngầm sâu cạn khác nhau trong lòng đất. Một số làng không có mạch nước ngọt riêng như Lương Yến, nhưng làng Văn La (Quán Hàu, Quảng Ninh) liền kề lại sở hữu hệ thống giếng nước ngọt dồi dào, cung cấp cho không chỉ làng mình mà còn cả vùng lân cận. Đó là hệ thống giếng Hang nổi tiếng, đi vào huyền thoại, ban đầu có bảy giếng nhưng nay chỉ còn bốn. Làng Lệ Kỳ (xã Vĩnh Ninh, Quảng Ninh) cũng tự hào với câu “giếng nước Lệ Kỳ trong vắt”. Nhìn chung, loại giếng này thường cho nước ngọt ở những làng cư dân sống ven đồi, ven cát, nhưng lại ít ngọt hoặc có nước lợ ở những làng ven sông, hoặc những khu vực trước đây là ven sông, hay các đầm phá đã bị lấp.
 
Giá trị cốt lõi của Giếng cổ
 
Giếng nước là một trong những nguồn cung cấp nước chủ yếu cho cộng đồng dân cư làng xã qua bao thế hệ. Người dân sử dụng nước từ giếng cổ để đáp ứng mọi nhu cầu đời sống, từ ăn uống, tắm giặt cho đến phục vụ sản xuất và sinh hoạt. Mọi hoạt động thường nhật dường như đều gắn bó mật thiết với không gian giếng làng.
 
Về phương diện kinh tế, trước khi con người biết đào giếng, phần lớn nước uống và sinh hoạt đều được lấy từ sông, hồ, khe suối. Điều này lý giải vì sao các làng vùng trũng Lệ Thủy, hay ven thượng nguồn các con sông, có rất ít giếng, thậm chí không có, dẫn đến những hệ quả sau:
 
Thứ nhất, việc lấy nước vô cùng khó khăn. Hầu hết nhà cửa của người dân không được xây dựng gần sông, hồ, khe suối để tránh nguy cơ ngập lụt do mưa lũ. Việc vận chuyển nước về nhà tốn kém nhiều thời gian và công sức, ảnh hưởng đáng kể đến công việc mưu sinh của mỗi gia đình. Do đó, sự hiện diện của một cái giếng gần nhà mang lại sự tiện lợi và nhanh chóng trong việc tiếp cận nguồn nước.
 
Thứ hai, chất lượng nước từ sông, hồ, khe suối thường không đảm bảo để sử dụng trực tiếp làm nước uống, tiềm ẩn nhiều rủi ro về sức khỏe cộng đồng. Ngược lại, nước giếng thường trong mát, tinh khiết, có thể uống trực tiếp như giếng Hang ở Văn La, hay giếng Chùa xã Mỹ Thủy (Lệ Thủy).
 
Bên cạnh những giá trị kinh tế và vật chất rõ ràng hằng ngày, giếng làng nói chung, và giếng cổ nói riêng, còn là một không gian sinh hoạt văn hóa chung của cả làng. Nơi đây chứng kiến biết bao câu chuyện được sẻ chia giữa người dân làng trên xóm dưới, qua các hoạt động thường nhật như gánh nước, giặt giũ, hay những cuộc gặp gỡ ngẫu nhiên bên giếng làng để dừng chân trò chuyện.
 
Giếng làng còn là nơi ươm mầm cho biết bao mối tình đôi lứa, nơi trai gái làm quen, gặp gỡ và hẹn hò. Nhiều cặp đôi đã nên duyên vợ chồng nhờ những khoảnh khắc định mệnh bên giếng nước làng.
 
“Giếng tròn vành vạnh đầu đình
Một trời huyền thoại cho mình ngẩn ngơ”
 
Giếng cổ là mạch nguồn truyền tải năng lượng gắn kết lòng người, củng cố cố kết cộng đồng và hun đúc lòng yêu quê hương đất nước. Từ giếng nước, từ sự gắn bó trong từng khoảnh khắc thường ngày, người dân làng đoàn kết, tạo nên một cộng đồng làng xã gắn bó keo sơn. Tình làng nghĩa xóm càng thêm bền chặt, dù đi đâu về đâu, hình ảnh giếng làng vẫn là nơi cố hương mà mỗi người hướng về. Tình làng nghĩa xóm, sự gắn kết giữa làng trên xóm dưới, tất cả đều khởi nguồn từ giếng nước làng, một ngọn nguồn cung cấp sự sống và đã lắng đọng sâu sắc vào đời sống tinh thần của mọi người.
 
Giếng cổ là biểu tượng mãnh liệt cho sức sống của làng xã Việt Nam nói chung, và Quảng Bình nói riêng. Nó được ví như long mạch, là trái tim của làng. Trong tín ngưỡng tâm linh của mỗi gia đình người Việt, giếng nước mang một vị trí đặc biệt quan trọng. Trong cấu trúc tâm linh tổng thể của làng quê, nếu cây đa có thần linh trú ngụ, chùa chiền có Đức Phật ngự trị, thì giếng nước được tin là nơi có thủy thần, có thần mẹ nước che chở. Giếng làng vì thế phản ánh đời sống tâm linh sâu sắc của xã hội. Theo quan niệm dân gian, giếng nước tượng trưng cho sinh khí và sự thịnh vượng của dân làng. Trong không gian kiến trúc làng, giếng làng đậm nét văn minh lúa nước. Những giá trị văn hóa tinh thần của giếng làng đã đi vào văn thơ, truyền thuyết; đi vào ngôn từ, hình ảnh mộc mạc thôn quê, và cả trong tình yêu nam nữ:
 
“Cái giếng đầu làng của em
Cái giếng đầu làng của anh
Một buổi trưa hè trời trong xanh
Em múc trao anh gàu nước mát
Mặt nước hòa đôi bóng chúng mình
…Cái giếng đầu làng của bốn phương
Lau giọt mồ hôi dừng bên đường
Uống ngụm nước đựng trong lòng nón
Nghe thấm tràn tình nghĩa quê hương”
                                    Cái giếng đầu làng (Tế Hanh)
 
Sự phong phú, đa dạng về hình thái của giếng cổ còn phản ánh óc sáng tạo và đa dạng văn hóa của cộng đồng cư dân làng xã. Những giá trị tinh thần, giá trị văn hóa mà giếng cổ mang lại có ý nghĩa vô cùng to lớn cho sự phát triển bền vững của cộng đồng. Tuy nhiên, trước làn sóng công nghiệp hóa và hiện đại hóa, những giá trị ấy đang dần bị bào mòn và lãng quên theo thời gian. Ngày nay, hầu hết các gia đình đều có giếng đào riêng hoặc sử dụng nước máy. Hơn nữa, một thực tế đáng buồn ở nhiều làng xã là nhiều giếng làng đang bị bỏ hoang, thiếu đi sức sống vốn có của những mạch nước ngầm âm thầm chảy trong lòng đất.
 
Giếng làng cần được bảo tồn đúng với vai trò và vị trí vốn có của nó. Chỉ với một chút chăm sóc, quan tâm như giữ gìn vệ sinh không gian giếng, tu sửa thành giếng và khu vực xung quanh, khôi phục những giếng bị bỏ hoang, chúng ta sẽ thổi một luồng sinh khí mới vào hồn cốt của di sản giếng cổ. Giếng làng nói chung, giếng cổ nói riêng sẽ mãi là những tấm gương phản chiếu ký ức xa xưa, và trong đời sống hiện tại, chúng vẫn là công trình mang giá trị văn hóa tâm linh sâu sắc của làng quê, là bản sắc văn hóa Quảng Bình kiên cường qua bao thế hệ.
Tạ Đình Hà