Di sản phi vật thể sống mãi: Chung tay bảo tồn, phát triển bền vững.
13
Quảng Bình đã tích cực triển khai nhiều hoạt động bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa phi vật thể (DSVHPVT), bao gồm cả những di sản được UNESCO công nhận và các di sản quốc gia, nhằm phát triển du lịch và nâng cao đời sống văn hóa cộng đồng. Tỉnh đặc biệt chú trọng vinh danh và hỗ trợ tài chính cho các nghệ nhân thông qua các chính sách cụ thể, đồng thời tổ chức truyền dạy, nghiên cứu và thành lập các câu lạc bộ văn hóa dân gian. Mặc dù đã đạt được những kết quả nhất định, công tác này vẫn đối mặt với nhiều thách thức như quản lý chưa đồng bộ, nhận thức hạn chế của cộng đồng, và nguy cơ mai một di sản do thiếu lớp nghệ nhân kế cận. Do đó, tỉnh cần tăng cường phối hợp liên ngành, đầu tư nguồn lực, đẩy mạnh tuyên truyền giáo dục và đặc biệt quan tâm sâu sắc hơn nữa đến các nghệ nhân để bảo tồn và trao truyền DSVHPVT bền vững.
(QBĐT) – Trong những năm gần đây, Quảng Bình đã triển khai đồng bộ các hoạt động nhằm bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa phi vật thể (DSVHPVT), bao gồm cả những di sản được UNESCO công nhận là DSVHPVT đại diện của nhân loại và các DSVHPVT quốc gia do Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch xếp hạng. Đặc biệt, công tác tôn vinh các nghệ nhân trong lĩnh vực này đang ngày càng nhận được sự quan tâm sâu sắc.
>>>Bài 1: Miệt mài giữ “ngọc”
Những DSVHPVT tiêu biểu đã được ghi danh tại Quảng Bình đang dần được khai thác hiệu quả, trở thành những tài nguyên du lịch độc đáo, góp phần thúc đẩy ngành du lịch địa phương. Điển hình có thể kể đến Hò khoan Lệ Thủy, Lễ hội đập trống của người Ma-Coong (Bố Trạch), Lễ hội mừng cơm mới của đồng bào Bru-Vân Kiều (xã Ngân Thủy, Lệ Thủy), Lễ hội cầu ngư của cư dân ven biển, Lễ hội đua thuyền truyền thống và nghệ thuật bài chòi…
Thực tiễn cho thấy, công tác gìn giữ và bảo tồn các làn điệu dân ca cùng những giá trị văn hóa của lễ hội truyền thống trên địa bàn tỉnh đã đạt nhiều kết quả tích cực, góp phần nâng cao đời sống văn hóa tinh thần của cộng đồng. Bên cạnh việc mở các lớp truyền dạy dân ca, Sở Văn hóa và Thể thao còn chú trọng tổ chức thành công các liên hoan văn nghệ quần chúng, liên hoan đàn hát dân ca, đồng thời đẩy mạnh nghiên cứu, sưu tầm, kiểm kê và hệ thống hóa tư liệu nhằm đánh giá sâu sắc giá trị của từng DSVHPVT. Từ đó, các giải pháp bảo tồn và khai thác phù hợp được đề xuất, hướng đến phục vụ phát triển du lịch bền vững.
Sự quan tâm sâu sát được thể hiện qua việc Tỉnh ủy, Hội đồng nhân dân tỉnh cùng các cấp ủy đảng và chính quyền đã ban hành nhiều văn bản chỉ đạo quan trọng, định hướng công tác bảo tồn và phát huy giá trị DSVHPVT. Đặc biệt, tỉnh đã triển khai quy định về chế độ hỗ trợ dành cho các nghệ nhân (NN) hoạt động trong lĩnh vực DSVHPVT, một tín hiệu đáng khích lệ.
Ngày hội văn hóa thể thao các dân tộc Quảng Bình: Một không gian ý nghĩa tôn vinh những giá trị văn hóa truyền thống của quê hương.
Cụ thể, mức hỗ trợ sinh hoạt hàng tháng dành cho Nghệ nhân Nhân dân là 1 triệu đồng/người/tháng, và 700 nghìn đồng/người/tháng cho Nghệ nhân Ưu tú. Đối với hoạt động truyền dạy DSVHPVT, Nghệ nhân Nhân dân nhận 800 nghìn đồng/người/buổi, Nghệ nhân Ưu tú là 500 nghìn đồng/người/buổi. Các quy định này được thể chế hóa trong Nghị quyết số 58/2023/NQ-HĐND của Hội đồng nhân dân tỉnh khóa XVIII, kỳ họp lần thứ 11, ban hành ngày 02/10/2023 và có hiệu lực từ ngày 01/01/2024, nhằm vinh danh và khuyến khích những cá nhân đã cống hiến không ngừng nghỉ cho việc gìn giữ, thực hành, truyền dạy và phát huy giá trị di sản.
Đặc biệt, trong khuôn khổ Dự án 6 “Bảo tồn, phát huy giá trị văn hóa truyền thống tốt đẹp của các dân tộc thiểu số (DTTS) gắn với phát triển du lịch”, thuộc Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế-xã hội vùng đồng bào DTTS và miền núi giai đoạn 2021-2030, ngành Văn hóa-Thể thao đã tích cực triển khai hàng loạt hoạt động cụ thể và thiết thực.
Nổi bật trong chuỗi hoạt động này là việc thành lập Câu lạc bộ (CLB) sinh hoạt văn hóa dân gian cho cộng đồng Bru-Vân Kiều tại xã Trường Sơn (Quảng Ninh); hỗ trợ trang thiết bị văn hóa cho các thôn, bản vùng DTTS tại Lệ Thủy, Quảng Ninh, Bố Trạch, Tuyên Hóa, Minh Hóa. Ngành cũng đã tổ chức tập huấn, bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ và truyền dạy VHPVT cho đồng bào Bru-Vân Kiều tại xã Trường Xuân (Quảng Ninh); triển khai bảo tồn và phát huy giá trị lễ hội mừng cơm mới của người Bru-Vân Kiều tại xã Ngân Thủy (Lệ Thủy); cùng với việc xây dựng các mô hình phát triển đời sống văn hóa DTTS tại xã Dân Hóa (Minh Hóa).
Định kỳ hàng năm, tỉnh Quảng Bình còn tổ chức Ngày hội văn hóa các dân tộc, một sự kiện lớn với đa dạng hoạt động như biểu diễn văn nghệ dân gian, trình diễn trang phục truyền thống và tái hiện các nghi thức sinh hoạt đặc sắc của các dân tộc. Sự kiện này là dịp quý báu để tôn vinh và giới thiệu những giá trị văn hóa tiêu biểu, nét đẹp truyền thống của cộng đồng các vùng miền trên toàn tỉnh.
Tuy vậy, theo đánh giá từ Sở Văn hóa và Thể thao, các hoạt động bảo tồn và phát huy giá trị DSVHPVT trên địa bàn tỉnh vẫn chưa thực sự tương xứng với bề dày lịch sử văn hóa phong phú của địa phương. Công tác quản lý nhà nước đối với các DSVHPVT còn chậm thích ứng với diễn biến thực tế, thiếu những giải pháp kịp thời và khả thi. Thêm vào đó, nhận thức về vai trò và ý nghĩa của công tác bảo tồn, phát huy giá trị di sản văn hóa nói chung và DSVHPVT nói riêng của một bộ phận cấp ủy đảng, chính quyền địa phương và người dân vẫn còn hạn chế. Việc tuyên truyền, giáo dục và vận động cộng đồng tham gia gìn giữ các giá trị DSVHPVT tại một số khu vực chưa được chú trọng đúng mức.
Hiện tại, Quảng Bình sở hữu kho tàng đồ sộ với hơn 100 DSVHPVT. Đáng chú ý, có 2 di sản được UNESCO vinh danh trong danh mục DSVHPVT đại diện của nhân loại, 10 di sản được Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch xếp hạng DSVHPVT quốc gia, cùng vô số di sản có giá trị khác. Mỗi DSVHPVT này đều phản ánh bản sắc độc đáo, đặc trưng riêng của từng địa phương trong tỉnh, tạo nên một tiềm năng văn hóa to lớn, sẵn sàng trở thành nguồn lực quan trọng thúc đẩy phát triển kinh tế-xã hội toàn diện của Quảng Bình.
Do đó, một số loại hình DSVHPVT đang đối mặt nguy cơ mai một và thất truyền. Thách thức lớn khác nằm ở thực trạng phần lớn các nghệ nhân dân gian đã ở tuổi “xưa nay hiếm”, trong khi đó, lớp trẻ lại ít mặn mà với các loại hình văn nghệ dân gian và văn hóa truyền thống của dân tộc. Công tác xã hội hóa nhằm huy động nguồn lực cho các hoạt động bảo tồn và phát huy giá trị DSVHPVT cũng còn gặp nhiều trở ngại…
Để đảm bảo các DSVHPVT trường tồn và “sống” động theo dòng chảy thời gian, cần thiết phải có sự phối hợp nỗ lực không chỉ từ ngành Văn hóa và Thể thao. Các cấp ủy đảng và chính quyền địa phương cần đặc biệt quan tâm, tạo điều kiện thuận lợi tối đa để các Câu lạc bộ đàn hát dân ca, Câu lạc bộ văn nghệ dân gian và các nghệ nhân phát huy hết vai trò của mình. Đồng thời, cần tăng cường đầu tư nguồn lực cho văn hóa, ưu tiên các vùng miền núi và vùng đồng bào DTTS, cùng với việc đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục nhằm nâng cao nhận thức xã hội, đặc biệt là ở thế hệ trẻ, về ý nghĩa của việc gìn giữ giá trị di sản văn hóa nói chung và DSVHPVT nói riêng. Hơn thế nữa, việc dành sự quan tâm sâu sắc hơn cho các Nghệ nhân Dân gian – những “báu vật nhân văn sống” – là vô cùng trọng yếu, nhằm tạo môi trường thuận lợi để họ tiếp tục cống hiến tri thức, kinh nghiệm, đưa di sản văn hóa hòa nhập vào đời sống đương đại và trao truyền lại cho các thế hệ tương lai.
Chủ tịch Hội Di sản văn hóa Việt Nam tỉnh Quảng Bình, ông Lê Hùng Phi, nhấn mạnh: “Việc chăm lo cho các nghệ nhân dân gian là yếu tố then chốt, quyết định sự tồn vong và phát triển của di sản văn hóa phi vật thể, đặc biệt là những di sản tiêu biểu. Tôn vinh và đãi ngộ xứng đáng đối với nghệ nhân là một phương thức thiết thực để triển khai hiệu quả các chương trình, hành động bảo tồn và phát huy giá trị DSVHPVT. Bởi lẽ, họ chính là những người trực tiếp nắm giữ, thực hành các nghi lễ, diễn xướng dân gian, đồng thời là cầu nối quan trọng trong việc truyền dạy và gìn giữ tinh hoa, bản sắc văn hóa dân tộc cho các thế hệ hiện tại và tương lai.”