Khám phá Miền Cát: Bí ẩn và Vẻ đẹp Bất Tận

4

Bài ký sự là hành trình cảm xúc của tác giả Trác Diễm và nhà thơ Lý Hoài Xuân về vùng đất Bảo Ninh, Quảng Bình, nơi những vần thơ của Nguyễn Trọng Tạo về cát và đời người vẫn mãi vang vọng. Trọng tâm của bài là cuộc gặp gỡ với "Em bé Bảo Ninh" Trương Ngọc Hương, một nhân chứng lịch sử đã kể lại những ký ức đau thương nhưng hào hùng của quê hương trong chiến tranh. Ông đã kể về việc bản thân khi chưa đầy 15 tuổi đã dũng cảm băng qua làn bom đạn để tiếp tế đạn dược, và sau đó cùng nhiều đồng đội khác đã hy sinh xương máu để bảo vệ quê hương. Những cồn cát Bảo Ninh, từng thấm đẫm máu xương và nước mắt của thế hệ đi trước, giờ đây đã hồi sinh, "biết cười, biết nở hoa", tượng trưng cho sức sống mãnh liệt và tinh thần quật cường của con người nơi đây.

(QBĐT) – “Có nơi nào như ở đây
Mù trời trắng cát. Gió cát say
Cát như đàn ngựa tung bờm nắng
Hóa gió phi lao bạc tháng ngày
Dưới cát: Bao người thân của tôi
Hồn trăng gió xoáy thổn thức đời
Và bao người nữa còn trên cát
Một bước lên, lại nửa bước lùi”
 
Vào một buổi sáng cuối tuần êm đềm, từ tầng mười hai lộng gió, tầm mắt tôi bao quát toàn cảnh thành phố đang ẩn mình trong lớp sương mờ giăng mắc. Những cành cây khẳng khiu, trơ trụi như nét bút thủy mặc, vẽ lên nền trời xám u những đường nét chấm phá đầy nghệ thuật. Một cảnh tượng tuyệt mỹ! Tôi khẽ nhấp ngụm cà phê ấm nóng, để khúc du ca của mùa lan tỏa nhẹ nhàng, thấm đẫm tâm hồn.
 
Rời khỏi không gian cao tầng, tôi xuôi theo con đường dẫn qua cầu Nhật Lệ – cây cầu huyền ảo ẩn hiện trong làn sương khói mờ ảo, như sợi chỉ mềm nối liền phường Đồng Mỹ và bán đảo Bảo Ninh. Giữa cầu, một khoảnh khắc bất chợt, tôi ghìm xe lại. Dòng kỷ niệm bỗng chốc ùa về, sắc bén và đột ngột, như vết cứa không tên.
 
– “D. ơi, Anh Nguyễn Trọng Tạo đây!”
 
– “ Ôi anh vào khi nào?”
 
-“Vừa mới, chút nữa gặp gỡ mấy anh em văn nghệ Quảng Bình tí cho vui nhé!”
 
Tôi cùng anh bước lang thang trên triền cát trắng, từng bước chân lún sâu vào lớp cát mịn màng, mát lạnh. Bất chợt, tôi quay sang anh, cất tiếng đùa: “Có cả đất trời mà lại không nhà ở. Nỗi vui nhỏ bé, niềm buồn thì mênh mông.”
 
Anh Tạo tiếp: “Mà thuyền vẫn sông mà xanh vẫn cỏ. Mà đời vẫn say mà hồn vẫn gió. Có thương có nhớ có khóc có cười. Có cái chớp mắt đã nghìn năm trôi”.
 
Vừa dứt lời, anh Tạo bật lên tràng cười sảng khoái, ngân vang: “Một năm là mấy cuộc chơi. Một đời đâu dễ kết người mỹ nhân.” Đoạn, anh chợt reo lên: “Ơ mà khoan đã, D. đứng yên đấy!”. Anh vội vàng rút chiếc máy ảnh khỏi túi, hướng về phía tôi mà bấm máy, phông nền phía xa là biển trời xanh ngút ngàn, trải dài vô tận.
***
Biển vẫn nguyên nét uy nghi, trời vẫn vẹn vẻ bao la, chỉ có màu cát như nhuốm thêm sắc xám u hoài. Anh Tạo đã ra đi, một hành trình dài vô định, có lẽ sẽ rất… rất lâu, chúng tôi chẳng biết bao giờ mới có thể hội ngộ anh ở một cõi khác, một thế giới khác. Thế nhưng, vần thơ anh vẫn mãi đọng lại, điềm nhiên và sâu sắc như chính cách anh đã sống: “Tôi ra đi đừng nghĩ vắng tôi rồi. Tôi ra đi vì yêu quá cuộc đời. Chưa phải thế nhưng mà nó thế”.
 
Hôm nay, tôi cùng nhà thơ Lý Hoài Xuân sẽ có dịp gặp gỡ một nhân vật lịch sử đặc biệt, người được nhân dân trìu mến gọi bằng cái tên “Em bé Bảo Ninh” – tên thật là Trương Ngọc Hương. Dù được gọi là “em bé”, nhưng nay ông đã ở cái tuổi “xưa nay hiếm”. Việc tìm đến nhà ông chẳng chút khó khăn, chỉ cần đi qua cầu chừng 200m rồi rẽ trái, hỏi “nhà Em bé Bảo Ninh ở đâu?”, ai nấy cũng đều hồ hởi chỉ dẫn tận tình.

Minh họa: Minh Quý
Minh họa: Minh Quý

Vừa trông thấy sự hiện diện của tôi và nhà thơ Lý Hoài Xuân, “Em bé Bảo Ninh” Trương Ngọc Hương đã reo lên vui vẻ: “Ôi, nhà thơ “Nhật Lệ trăng huyền thoại”, sao hôm nay thầy lại ghé thăm nhà em thế này?”. Tôi ngạc nhiên khôn xiết khi nghe ông gọi nhà thơ Lý Hoài Xuân là thầy, và chợt vỡ lẽ rằng nhà thơ từng là người giảng dạy cho “Em bé Bảo Ninh” một vài tiết học chính trị tại trường Đảng.

 
Trở lại với câu chuyện về nhân vật lịch sử mang tên “Em bé Bảo Ninh”, ông bắt đầu kể về ngày 7 tháng 2 năm 1965. Đó là một ngày xuân tràn đầy nhựa sống, khi người dân Đồng Hới, trong đó có quê hương Bảo Ninh của ông, đang nô nức hưởng ứng phong trào Tết trồng cây chắn cát, chắn sóng ven biển do Bác Hồ phát động. Thế nhưng, đúng vào khoảnh khắc ấy, hàng chục máy bay Mỹ bất ngờ ồ ạt tập kích, trút bom xuống thị xã Đồng Hới và các vùng phụ cận. Làng cát Bảo Ninh bỗng chốc chìm trong khói bom mịt mùng.
 
Lúc bấy giờ, Trương Ngọc Hương, chưa đầy 15 tuổi, đang ẩn mình trong hầm cát cùng nhóm bạn nhỏ. Cuộc giao tranh ác liệt kéo dài từ sáng đến trưa, bộ đội và dân quân ta kiên cường chống trả những đợt không kích của máy bay Mỹ. Theo dõi tình hình từ dưới hầm, cậu bé Trương Ngọc Hương nhận thấy trận địa đang lâm vào tình trạng thiếu đạn trầm trọng. Thông thường, việc tiếp đạn là nhiệm vụ của người lớn, nhưng trong hoàn cảnh hiểm nghèo ấy, cậu bé Hương đã không ngần ngại lao lên khỏi hầm để quan sát rõ hơn. Rồi chỉ trong tích tắc, thân hình nhỏ bé của cậu đã dũng cảm băng qua làn khói bom mịt mùng và bụi cát, tiến đến một kho chứa đạn gần nhà mình, cõng từng thùng đạn nặng nề mang về tiếp viện cho trận địa.
 
Và cứ thế, liên tiếp trong nhiều ngày sau đó, cậu bé Trương Ngọc Hương cùng những người bạn nhỏ của làng cát Bảo Ninh đã không quản hiểm nguy, bò nhoài trên cát, ẩn nấp sau từng động cát rồi dũng cảm băng qua làn mưa bom bão đạn để tiếp tế cho bộ đội. Lớn thêm vài tuổi, nhưng quê hương vẫn chìm trong khói lửa chiến tranh. Cửa biển Nhật Lệ bấy giờ dày đặc thủy lôi và tàu chiến địch chực chờ, rình rập đe dọa. Là một người con sinh ra và lớn lên từ biển, ông dành trọn tình yêu cho biển quê mình hơn bất cứ ai; biển là mái nhà, biển cũng là quê hương. Mặc cho hiểm nguy từ thủy lôi và tàu chiến có thể cướp đi sinh mạng bất cứ lúc nào, ông vẫn cùng các đoàn viên khác giong buồm ra khơi, mang hải sản về cho hợp tác xã, góp phần phục vụ cuộc chiến trường kỳ.
 
Thế rồi, một lần không may mắn, trong chuyến ra khơi ấy, ông và các đoàn viên đã bị địch bắt giữ và đày ải ra đảo Cù Lao Chàm. Giữa trùng khơi sóng gió mịt mờ, ông cùng các thành viên trong đoàn phải chịu đựng sự đánh đập, tra khảo dã man suốt ba, bốn tháng ròng. Sau đó, họ mới được thả tự do, bởi quân địch nhận thấy họ không hề mang theo súng đạn hay bất kỳ vũ khí nào, chỉ vỏn vẹn một chiếc quần cộc và cái nón cời cũ kỹ. Hơn một nửa số bạn bè của ông sau này đã anh dũng hy sinh trong các cuộc chiến bảo vệ quê hương. Riêng ông, may mắn sống sót trở về.
 
Tôi lặng người khi ánh mắt chạm vào những vết sẹo nâu sẫm hằn sâu trên cơ thể ông. Đôi mắt ông rưng rưng xúc động, như gói trọn nỗi niềm tiếc thương vô hạn khi hồi tưởng về những người đồng đội đã khuất, những người con làng cát một thời kiên cường, dũng cảm phi thường.
 
Tôi rời ngôi nhà nhỏ của “Em bé Bảo Ninh/Bên bờ Nhật Lệ/Như cánh hoa nhỏ/Nở bên chiến hào/Như chim đầu ngõ/Hót mừng xôn xao…“.
 
Tôi lội ngược dòng cát, leo lên một độ cao nhất định, trước mắt hiện ra những động cát trải dài bất tận, uốn lượn như bầu vú mẹ thiêng liêng, dịu dàng xoa dịu làn gió biển mặn mòi lên mặt tôi. Quả thật, đúng như câu thơ: “Một bước lên, lại nửa bước lùi”.
 
“Ngày xưa, chính trên cồn cát này, những người như chú, khi ấy chỉ mới mười bốn, mười lăm tuổi, đã cùng bộ đội mở một con đường giao liên len lỏi qua cát, hộ tống đồng bào Vĩnh Linh và vùng phía Nam Quảng Trị vừa giải phóng sơ tán ra miền Bắc. Cả đoàn người, gồng gánh nặng nhọc, lê bước qua những động cát dài đến 50-60km, đi ròng rã cả ngày lẫn đêm, bải hoải rã rời chân tay, mới đến được trạm giao liên tại vùng Bảo Ninh này. Rồi những ngày cùng bạn bè đi trồng cây dương chắn cát, chú cũng được nghe người dân kể lại rằng, cứ cách vài cây số lại có một trạm giao liên mật phục dưới những động cát. Hằng đêm, các đội dân quân du kích thay phiên nhau canh gác. Một hôm trăng thanh gió mát, một anh quân dân nọ hẹn hò người yêu, ngồi bên nhau lắng nghe sóng biển, tận hưởng những giây phút bình yên hiếm hoi và mơ ước về một ngày đất nước không còn cảnh đạn nổ bom rơi. Nhưng thật không may, hôm sau anh ấy đã giẫm phải mìn và anh dũng hy sinh ngay trên động cát này.
 
Điều đau lòng hơn nữa là một năm sau đó, cô người yêu quân dân của anh cũng bị bom bắn trúng khi đang làm nhiệm vụ gác tại trạm giao liên. Họ đã sống bên nhau và ra đi cùng nhau trên những đụn cát quê hương; máu của họ đã thấm sâu vào lòng cát, nuôi dưỡng từng ngọn cỏ lông chông, từng cây xương rồng vươn mình nở hoa trên cát, đầy quật cường và khát khao sống. Cũng chính trên dải cát quê hương này, người anh trai con bác của chú cũng bị bom đánh chìm dưới nước, miệng ngậm đầy cát. Thuở ấy, nghèo khó đến mức, nếu không ngậm gạo thì cũng đành ngậm cát mà vĩnh biệt cuộc đời…”
 
Nhà thơ Lý Hoài Xuân bỗng nghẹn ngào, một tiếng nấc khẽ bật ra. Ông vốc một nắm cát lên tay, để những hạt cát li ti mặc sức tuôn qua kẽ tay, rơi nhẹ xuống chân mình, như dòng chảy vô tận của ký ức và nỗi đau.
 
“Tôi và cát, cát và tôi
Chở che nhau suốt một thời đạn bom
Lẫn trong cái mất cái còn
Biết bao máu thấm những cồn cát kia
Những ai ngày ấy ra đi
Có ai nhớ cát những khi xa rồi”
 
Tôi và nhà thơ Lý Hoài Xuân cứ thế bước đi trong lặng lẽ trên những triền cát trắng, mỗi người mang một nỗi niềm riêng tư. Thi thoảng, chúng tôi bắt gặp những luống khoai non xanh mướt, hay nghe vẳng tiếng cười trong trẻo, hồn nhiên của đoàn người đang say sưa trượt cát. Từ trong những thương đau của quá khứ, giờ đây, cát đã biết cười, cát đã biết nở hoa, như một minh chứng cho sức sống bất diệt.
 
Riêng tôi, một cảm xúc dâng trào đến lạ lùng, khó tả, khi những vần thơ ấy vẳng lên trong tâm trí: “… đi lên đồi cát mịn/Biển ngoài kia nơi tiếng sóng đang reo/Cát trắng quá nên đêm xuống chậm/Hay Bảo Ninh mãi vẫn ban ngày?”.
     Ký sự của Trác Diễm

Nguồn: Nguồn bài viết