Bảo tàng ký ức: Khám phá nguồn cội và bản sắc Việt

2

Hội Rằm tháng Ba Minh Hóa là một lễ hội truyền thống trọng yếu, mang ý nghĩa biểu tượng văn hóa sâu sắc, kết nối cội rễ cộng đồng người dân vùng sơn cước. Lễ hội diễn ra định kỳ vào các ngày 14, 15, 16 tháng 3 Âm lịch hàng năm, gắn liền với truyền thuyết Thác Bụt linh thiêng, kể về việc người dân lập miếu thờ thần Bụt để chuộc lỗi, cầu an lành và mùa màng bội thu sau khi phạm phải lỗi lầm.
Đây không chỉ là nơi lưu giữ huyền tích mà còn thể hiện nét đẹp tín ngưỡng dân gian, sự cố kết cộng đồng sâu sắc và giao lưu văn hóa phong phú giữa các tộc người. Đối với những người con xa quê, Hội Rằm là dịp đặc biệt để trở về nguồn cội, gợi nhớ ký ức tuổi thơ và là biểu tượng thiêng liêng của tình yêu quê hương, gắn kết mọi thế hệ.

QTO – Hội Rằm tháng Ba Minh Hóa không chỉ là một trong những lễ hội truyền thống trọng yếu mà còn là biểu tượng văn hóa đặc sắc, kết tinh tinh hoa của cộng đồng người dân vùng sơn cước phía Tây Bắc tỉnh. Đây không chỉ là nơi lưu giữ huyền tích, mà còn là mạch nguồn ký ức, gắn kết cội rễ của cả cộng đồng.

Từ mạch nguồn huyền tích…

Mặc dù niên đại chính xác của Hội Rằm tháng Ba Minh Hóa đã lu mờ theo thời gian, song lễ hội này được biết đến là đã hiện hữu từ rất lâu đời. Định kỳ tổ chức vào các ngày 14, 15, 16 tháng 3 Âm lịch hàng năm, sự kiện này gắn liền mật thiết với truyền thuyết về Thác Bụt linh thiêng.

Tương truyền, người dân Minh Hóa vẫn kể cho nhau nghe câu chuyện về hai anh em nọ, vào một ngày tháng Ba âm lịch xưa kia, khi lạc đường trên núi Ông Ngoi trong chuyến đi tìm mật. Trong hành trình vô định, họ tình cờ phát hiện một phiến đá hình vuông tuyệt đẹp nằm bên một giếng nước trong và một cây quýt sum suê trĩu quả.

Dừng chân giữa cơn đói khát, họ uống nước và hái quýt để lót dạ, rồi tiếp tục cuộc hành trình. Nhưng kỳ lạ thay, mỗi lần cố gắng rời khỏi khu rừng để tìm đường về, họ lại trở về đúng vị trí bàn đá và giếng nước ấy. Linh cảm mách bảo rằng những vật thể này không phải ngẫu nhiên mà có, mà chắc chắn do thần linh tạo tác, họ quyết định quan sát kỹ hơn. Lần này, họ phát hiện quanh bàn đá có mười hai tượng đá hình người rất giống tượng Bụt. Tuyệt vọng vì mãi không tìm được lối ra, người em nhặt một tượng đá nhỏ bỏ vào gùi, với ý niệm rằng hành động này sẽ buộc thần linh phải chỉ lối dẫn đường cho họ.

Đa dạng sản vật địa phương được trưng bày và giới thiệu tại khu chợ trong khuôn khổ Hội Rằm tháng Ba Minh Hóa – Ảnh: V.M
Đa dạng sản vật địa phương được trưng bày và giới thiệu tại khu chợ trong khuôn khổ Hội Rằm tháng Ba Minh Hóa – Ảnh: V.M

Thế nhưng, mọi nỗ lực đều vô vọng, họ vẫn không thể thoát khỏi rừng sâu. Cuối cùng, khi sức lực cạn kiệt, họ dừng chân nghỉ bên Khe Cúi. Khi định đứng dậy đi tiếp, hòn đá họ mang theo bỗng nặng trĩu, không sao nhấc nổi. Trong cơn bực tức, người em dùng sống rựa chém mạnh vào hòn đá, làm vỡ mất một góc, rồi tìm cách trở về nhà. Không lâu sau đó, một chuỗi tai ương ập đến: người dân trong làng và các khu vực lân cận thường xuyên ốm đau, bệnh tật, vật nuôi chết dần, cây cối vườn tược xác xơ tiêu điều một cách khó hiểu.

Khi nghe câu chuyện từ hai anh em, dân làng đều nhận định rằng họ đã phạm lỗi với thần Bụt. Để chuộc lại sai lầm và cầu mong sự bình an, hai anh em cùng bà con dân làng đã lập một ngôi miếu thờ thần Bụt bên Khe Cúi. Họ thành tâm tạ lỗi và cầu nguyện cho người dân trong vùng không còn bệnh tật, ốm đau, mong mưa thuận gió hòa, mùa màng bội thu. Lời cầu được ứng nghiệm, cuộc sống của người dân từ đó trở nên sung túc, no đủ, vạn vật tốt tươi. Cứ thế, vào mỗi dịp rằm tháng Ba âm lịch, người dân lại tổ chức lễ rước, cúng tế Bụt, biến sự kiện này thành lễ hội lớn nhất của vùng Minh Hóa (cũ).

Ngày nay, mặc dù có nhiều dị bản về huyền tích Thác Bụt, nhưng nội dung cốt lõi của câu chuyện vẫn được giữ nguyên. Theo đánh giá của các nhà nghiên cứu văn hóa, truyền thuyết Thác Bụt và Hội Rằm tháng Ba không phải là sự xuất hiện ngẫu nhiên. Đây là biểu hiện sinh động của nét đẹp truyền thống, tín ngưỡng dân gian, thể hiện sự cố kết cộng đồng sâu sắc và sự giao lưu văn hóa phong phú giữa các tộc người đã định cư lâu đời tại khu vực miền núi phía Tây Bắc của tỉnh.

Về chốn nguồn cội thiêng liêng

Mỗi độ Hội Rằm tháng Ba cận kề, những người con Minh Hóa (cũ) dù sinh sống hay lập nghiệp ở bất cứ đâu cũng không khỏi bồi hồi, nhắn nhủ nhau trở về với cội nguồn, với quê hương thân thương. Điều này được thể hiện qua những câu ca dao tha thiết mời gọi, trở thành lời hẹn ước không thể bỏ lỡ: “Thà rằng đau ốm mà nằm/ Ai thà mà bỏ ngày rằm tháng ba”, hay “Chẳng thà đau ốm mà nằm/ Không ai mà bỏ chợ rằm tháng ba”.

“Đã lâu lắm rồi chưa có dịp về quê, nên Hội Rằm năm nay, tôi nhất định sẽ trở về. Đây là khoảnh khắc quý giá để thăm hỏi anh em, người thân, và gặp gỡ bạn bè hàn huyên, tâm sự”, ông Đinh Công Định (sinh năm 1952) từ TP. Huế chia sẻ, và hẹn gặp chúng tôi tại Hội Rằm tháng Ba Minh Hóa sắp tới. Sinh ra và lớn lên trong bối cảnh đất nước chìm trong khói lửa chiến tranh, ký ức về quê hương trong những năm tháng ấy của ông Định luôn gắn liền với sự nghèo khó. Tuy nhiên, những câu chuyện về huyền tích Hội Rằm, Thác Bụt và hoài niệm về phiên chợ Rằm tháng Ba vẫn vẹn nguyên, không hề phai nhạt trong tâm trí ông cho đến tận bây giờ.

Ông Định kể lại, thời đó, chiến tranh đã đảo lộn mọi sinh hoạt thường ngày. Thế hệ trẻ như ông phải học tập và sinh sống dưới hầm trú ẩn, vì vậy, những huyền tích về Hội Rằm, Thác Bụt, ông chủ yếu được nghe người lớn kể lại chứ chưa từng một lần được tận mắt chứng kiến hay tham gia lễ hội. Trải qua hơn nửa đời người xa quê hương để học tập và làm việc, mỗi khi nỗi nhớ nhà, nhớ quê trỗi dậy, ông lại miên man nghĩ về những phiên chợ Rằm tháng Ba thuở xưa. Gọi là chợ, nhưng thực chất đó chỉ là nơi người dân trong vùng đến để trao đổi, mua bán những vật phẩm thiết yếu, ai có sản vật gì thì mang đến bán hoặc đổi lấy thứ mình cần.

Thuở ấy, các gia đình đều vô cùng nghèo khó. Mỗi khi đến phiên chợ Rằm, nhìn thấy mẹ đi chợ, những đứa trẻ như ông Định lại nôn nao, hồi hộp ngóng đợi những món quà nhỏ. Đó có thể chỉ là một cây kẹo, một tấm bánh, hay đôi khi chỉ là vài loại quả rừng. Tuy nghèo, nhưng những ký ức ấy lại đằm sâu và vô cùng đáng nhớ. Đặc biệt, ông vẫn nhớ mãi những món ăn thời thơ ấu cơ cực, như món ốc đực và bồi – nay đã trở thành những đặc sản riêng có của vùng đất này. Ngày đó, ông một buổi đến trường, một buổi phải xuống khe suối mò cua bắt ốc. Ốc đực khi ấy rất phong phú, được bắt về luộc ăn kèm với bồi để thay cơm.

Ông Định tâm sự: “Ngày nay, vẫn là món cơm bồi ấy, nhưng sao hương vị dường như không còn giống như hồi trước. Phải chăng ngày xưa đói khổ, mỗi miếng ăn đều được trân quý vô ngần. Thuở trước, nguyên liệu làm bồi chỉ đơn thuần là ngô và sắn, không pha trộn thêm cơm nếp và cũng không xay bằng máy móc hiện đại như bây giờ. Công đoạn làm bồi cũng hết sức công phu: ngô được giã mịn, rồi ngâm nước theo tỷ lệ 3 sôi 2 nguội qua đêm. Đến hôm sau, mới cho thêm sắn vào, giã bằng tay cho thật nhuyễn và dẻo quánh như keo”. Mặc dù cuộc sống nghèo khó là thế, ông Định ngày ấy lại học hành xuất sắc, được Nhà nước tuyển chọn đi du học ngành Sư phạm Ngoại ngữ tại Liên Xô. Đến tận ngày nay, tiếng tăm về sự học giỏi của ông Đinh Công Định vẫn được nhiều người dân Minh Hóa nhắc đến với lòng ngưỡng mộ.

Không chỉ riêng ông Định, cứ đến dịp Hội Rằm tháng Ba, mỗi người con của Minh Hóa (cũ) đều cảm thấy tha thiết, mong muốn được trở về để sống lại những ký ức lễ hội tại mảnh đất “chôn nhau cắt rốn” của mình. Những câu ca dao thấm đẫm tình quê hương vẫn còn vang vọng, như lời mời gọi sâu sắc: “Ai lên Minh Hóa quê mình/ Điệu hò thuốc cá, đượm tình quê hương”, hay “Chợ Sạt (chợ Quy Đạt ngày nay) một tháng ba phiên/ Không đi thì lỡ lời nguyền với em”. 

D.C.Hợp