Dương Văn Lượng: Nhà thơ Vượt Gian Khó, Thơ Ca Chạm Trái Tim

6

Tập thơ "Nâu trầm" của thi sĩ Dương Văn Lượng, xuất bản tháng 9/2024, là tác phẩm mới nhất, phản ánh phong cách của một nhà thơ xuất thân binh nghiệp nhưng mang tâm hồn trầm mặc, giàu cảm xúc và gốc gác Quảng Bình sâu đậm. Nổi bật trong tập thơ là tình yêu sâu sắc dành cho quê hương Quảng Bình, được khắc họa qua nhiều địa danh cụ thể và hình ảnh ẩn dụ, thấm đẫm nỗi ám ảnh về mảnh đất đã nuôi dưỡng tâm hồn ông. Bên cạnh đó, các tác phẩm còn khắc họa hình ảnh người mẹ tảo tần, cuộc sống gian khó nhưng kiên cường của người dân miền Trung, cùng những suy tư triết lý sâu sắc về thân phận và ý chí vượt lên số phận. Với 69 bài thơ được chưng cất từ "giọt lệ bản thể", "Nâu trầm" khẳng định Dương Văn Lượng là một thi sĩ của tư duy sâu sắc, với không gian nghệ thuật giàu hình tượng và ngôn ngữ tinh xảo, thể hiện hành trình khám phá bản ngã không ngừng.

(QBĐT) – Sau cơn bão số 3 (Yagi) vừa tan, tập thơ mới nhất của thi sĩ Dương Văn Lượng, mang tên Nâu trầm (NXB Hội Nhà văn, tháng 9/2024), đã đến tay tôi. Cầm tác phẩm trên tay, một cảm giác đối thoại sâu sắc với tác giả chợt ùa về. Ông vẫn vậy, một nhà thơ xuất thân binh nghiệp nhưng luôn giữ trong mình sự nhỏ nhẹ, bao dung, trầm mặc như dòng Kiến Giang quê nhà.

Dương Văn Lượng chưa bao giờ che giấu gốc gác Quảng Bình của mình, từ âm điệu lời nói, phong thái sống chân thành… cho đến từng vần thơ. Ông tự khẳng định: “Lớn lên nơi bãi năn, đồng lác/Chân lê lết bùn/Vật vã sống những mùa lạnh giá” (trong bài “Tôi”), và xác tín bản thân là “Chút tinh dầu lên hương đắng cay”.

Thơ ca, suy cho cùng, là hiện thân của những giọt lệ chất chứa nỗi niềm. Nhà văn Trịnh Bích Ngân, tác giả tập Nghiêng về phía nỗi đau, từng nhấn mạnh rằng thơ không thể dung thứ sự che đậy. Thành công đích thực của một thi sĩ chính là khả năng phơi bày “giọt lệ nỗi niềm” chân thật nhất trong gia tài thơ của mình. Bởi lẽ đó, dẫu chưa một lần diện kiến nhà thơ Dương Văn Lượng, khi đọc thơ ông, tôi cảm tưởng như đang trực tiếp đối thoại với chính tâm hồn tác giả.

A
Các tuyển tập thơ của thi sĩ Dương Văn Lượng.

Nâu trầm bao gồm 69 bài thơ, tiếp tục khẳng định Dương Văn Lượng là một thi sĩ của tư duy sâu sắc, với những vần thơ được chưng cất từ giọt lệ bản thể. Lật giở mục lục, người đọc dễ dàng nhận thấy sự đa dạng trong đề tài, từ hiện thực đời sống đến những suy tư vô thức. Đặc biệt, mảng đề tài về quê hương Quảng Bình được khắc họa một cách đậm nét và đầy cảm xúc.

Những tác phẩm như Trở lại ngã ba Thạch Bàn, Nghĩ về suối Moọc, Đưa em về Lệ Thủy, Đưa em về Đồng Hới là minh chứng rõ ràng cho tình yêu quê hương với những địa danh cụ thể. Ngoài ra, tinh thần Quảng Bình còn thấm đẫm trong các bài thơ mang tên ẩn dụ như: Làng, Đắng ngọt phù sa, Áo tơi, Mẹ, Gáo nước mưa, Qua mùa chưng cất, Vũ khúc tình say, Đồng điệu, Cây tre còng, Nổi nênh… Có thể nói, quê hương đã trở thành nỗi ám ảnh, ăn sâu bám rễ vào tâm hồn Dương Văn Lượng, để từ đó thơ ca ông cất lên một giọng điệu riêng biệt.

                                               *

                                              * *

Xã Xuân Thủy, nơi chôn rau cắt rốn của nhà thơ Dương Văn Lượng, nép mình bên dòng Kiến Giang, cạnh thị trấn Kiến Giang, trung tâm huyện Lệ Thủy. Ông chào đời trước Tết âm lịch, và được ví như “con rắn ngủ đông”. Với người dân miền Trung thời ấy, đó là mùa “giáp hạt” đầy đói kém, khổ cực đến quắt queo.

             Tắm phù sa từ trong bụng mẹ

             Mẹ sinh tôi vào mùa nước dâng

             Mái rạ, ổ rơm, nồi cơm rỗng bữa

             Đội nắng, cõng mưa vớt lúa trương mầm

                                                                   (Đắng ngọt phù sa)

Trong bài “Đắng ngọt phù sa”, Xuân Thủy nói riêng và Lệ Thủy nói chung trước Cách mạng tháng Tám hiện lên như một bức tranh tuy xác xơ nhưng vẫn ẩn chứa nét yên bình, nơi con người lam lũ nhưng luôn cần cù, chịu thương chịu khó. “Năm khô hạn ngước nguồn chậm xuống/Đói phù sa đất cũng rạc màu/Quanh quẩn hái liềm vui ngày cày cấy/Nắng nâu trầm soi trong mắt nhau”. Song, đó lại là cội nguồn của mọi yêu thương, là ký ức tuổi thơ vời vợi. “Ngày mẹ sinh tôi cỏ lút hiên nhà/Chơi với cỏ tóc còn để chỏm/Cọng cỏ con cánh tay bè bạn/Mắt lá sao trời khát vọng tuổi thơ” (trong bài “Qua mùa chưng cất”).

Là con người, ai cũng có một người mẹ đã sinh thành. Từ cổ chí kim, không một thi sĩ nào bỏ qua đề tài về người mẹ. Dương Văn Lượng cũng không ngoại lệ. Mẹ hy sinh cả đời để nuôi con khôn lớn. Ngay cả khi đã trưởng thành, mẹ vẫn luôn là bến đỗ bình yên, nơi con cái tìm về nương tựa mỗi khi yếu lòng, vấp ngã hay đớn đau.

Quê hương gắn liền với mẹ, và mẹ cũng hiện hữu trong quê hương – đó là một hiện thực hữu hình. Trong văn học nghệ thuật, hình bóng người mẹ thường lồng ghép vào hình bóng quê hương, tạo nên một hiện thực ẩn dụ đầy sức gợi. Trong bài “Áo tơi”, hình ảnh người mẹ của nhà thơ, cũng là hình ảnh những người mẹ miền Trung, hiện lên với dáng vẻ tảo tần: “Mẹ còng lưng cấy lúa ngoài đồng/Hun hút chiều mưa phùn gió bấc/Áo tơi nón lá che tấm thân gầy”. Hai câu kết bài được nâng lên, ám ảnh khôn nguôi: “Mẹ cấy một đời đông/Che chiều nào cũng gió”.

Hình ảnh người cha, người mẹ trong thơ Dương Văn Lượng thật giản dị mà chân tình: “Cha cày đồng về/Gáo nước mưa dẹp tan cơn khát/Mẹ ra sân múc nước/Sắn độn cơm dẻo thơm” (trong bài “Gáo nước mưa”). Dù mộc mạc, chân quê, nhưng với ông, đó là cả một bầu trời thương nhớ, là dòng sữa ngọt nuôi dưỡng tâm hồn. Đó là thứ ánh sáng Bát Nhã, theo quan niệm Phật giáo, tỏa rạng trong hồn thơ ông.

Dương Văn Lượng luôn tự hào về quê hương Quảng Bình, tự hào là người con của mảnh đất này; nơi “Núi gối đầu chạy dọc/Sông rẽ mạch đâm ngang/Bát ngát đồng xanh, bao la cát trắng/Lưng Trường Sơn bốn mùa mây phủ/Mặt ngắm sóng biển Đông” (trong bài “Đưa em về Lệ Thủy”).

Quảng Bình có năm con sông lớn, nhưng Kiến Giang chỉ là một nhánh sông nhỏ, dài 58km, khởi nguồn từ chân núi 1001 (phía tây nam Lệ Thủy) và chảy về ngã ba Trần Xá. Tại đây, sông hợp lưu với sông Long Đại để tạo thành sông Nhật Lệ, rồi đổ ra biển Đông qua cửa Nhật Lệ. Quảng Bình là “eo thắt” nhất miền Trung, với đặc điểm sông ngắn và dốc. Có lẽ vì lẽ đó, những trận hạn hán hay lũ lụt, đặc biệt là tại vùng trũng nhất Quảng Bình như Lệ Thủy, thường được xem là “chuyện của trời”.

“Đất đồng trũng năm nào cũng ngập/Nước vô nhà/Người trèo lên tra/Sống cùng nước/Đục trong với nước/Tôi một đời đắng ngọt phù sa”. Chỉ khi nếm trải đắng cay, người ta mới thấu hiểu vị ngọt bùi; chỉ khi đối mặt với gian khổ, ý chí kiên cường mới được tôi luyện – đó là quy luật tất yếu của cuộc đời. Câu thơ “Tôi một đời đắng ngọt phù sa” không chỉ là lời hoài niệm, một sự xác tín, mà còn là một câu thơ mang tính minh triết sâu sắc về kiếp nhân sinh.

Trong số những bài thơ về quê hương Quảng Bình, “Đồng Hới” có lẽ là tác phẩm gói ghém trọn vẹn cả quá khứ và hiện tại, lịch sử và văn hóa, thể hiện niềm kiêu hãnh về một vùng đất.

             …

             Bàu Tró gương trời soi cuộc bể dâu

             Vẫn chưa thôi nếp nhăn trần thế

             Thành cổ rêu phong mấy tầng lịch sử

             Lũy Thầy nghe ngựa hý voi gầm

             Đêm Đồng Hới nhớ trăng Hàn Mặc Tử

             Sóng nhân tình vỗ khúc trầm luân

                                                            (Đồng Hới)

Dương Văn Lượng luôn nhìn quê hương bằng tấm lòng chân thành, trân trọng những nét giản dị, chân chất: “Ai qua Bảo Ninh/mua giùm chai mắm chắt/bánh bột lọc sắn/thêm bọc khoai deo/Về Hải Thành mua vài lon ruốc/Món quà quê không đóng dấu giàu nghèo” (trong bài “Đồng Hới”). Và nhà thơ tự hào ngợi ca: “Người Đồng Hới tình như sông biển/Tôi một đời muối mặn gừng cay/Sáng nay em về áo dài nón trắng/Thành phố hoa hồng như tôi đã yêu”.

Cụm từ “Thành phố hoa hồng” đã trở thành biểu tượng, một “thương hiệu” đặc trưng của Đồng Hới. Tuy nhiên, ít ai biết rằng, đó là cách gọi đầy thi vị của nữ nhà thơ Bungari Blaga Dimitrova khi bà đến thăm thị xã Đồng Hới trong những năm chiến tranh ác liệt, khi đất nước còn chưa thống nhất.

Hoa hồng, loài hoa biểu trưng cho tình yêu và cái đẹp. Trong tiếng Hy Lạp cổ đại, hay trong các bản kinh thánh, tình yêu được xem là sức mạnh, là tin mừng, là chiến thắng. Vì lẽ đó, câu “Thành phố hoa hồng như tôi đã yêu” chính là lời tự hào sâu sắc của nhà thơ về quê hương mình.

                                                   *

                                                  * *

“Ao đình nay đã đầm sen/Làng tôi vặn mình lên phố/Chút hoài niệm cũng vương màu ngơ ngác/Vui buồn mấy độ tóc sương” (trong bài “Làng”). Đây là bài thơ ngắn nhất trong tập Nâu trầm, nhưng dư ba của nó lại vô cùng rộng lớn, chạm đến những đổi thay sâu sắc của thời đại.

Bài thơ “Cây tre còng” lại mang đến một nhận diện khác biệt. Ai cũng biết tre đã còng, đã cong thì khó lòng làm được việc gì hữu ích: “Chẳng ai mua tre làm đòn tay rui mè/Chẳng ai chặt tre đan giần sàng rổ rá”, và nó phải chịu thân phận cô độc “Một mình gội mưa tắm nắng/Vui cùng bầy chim”. Thế nhưng, hai câu cuối lại bật lên đầy bất ngờ, thể hiện ý chí kiên cường: “Cây tre gồng lưng số phận/Vượt tật nguyền”.

Ở tuổi ngoài thất thập, lại từng là một giảng viên Triết học, có lẽ vì thế thơ của Dương Văn Lượng chứa đựng chiều sâu của suy cảm. Đọc thơ ông, những câu từ tưởng chừng giản đơn lại dễ dàng neo vào lòng, khơi gợi bao nghĩ suy về thân phận và đời người: “Ngày quê nhà cầu lớn qua sông/Con đò ngang tròn vai lịch sử/Gối cát vàng bến xưa lặng lẽ/Vui buồn ngẫm sự nổi nênh” (trong bài “Nổi nênh”).

Trong tập Nâu trầm, nhiều bài thơ còn mở ra những vỉa tầng ý nghĩa đa chiều. Có thể kể đến các tác phẩm như Thời gian, Vô định, An nhiên, Siêu thực, Tồn tại, Khai mở, Cân bằng, Dụ ngôn, Thấp cao, Căn cước, Ám thị… Đây là những bài thơ mà tôi nhận định được viết từ cõi vô thức, chạm đến những tầng sâu tiềm ẩn của tâm hồn.

Không gian nghệ thuật trong Nâu trầm không chỉ giàu hình tượng về mùa, cỏ cây, hoa lá, nắng gió, sông biển…; mà còn thể hiện sự tinh xảo trong việc sử dụng ngôn ngữ, kết hợp hư thực, các phép đối, nhằm ý thức về những cặp phạm trù triết học lớn lao từ thiên nhiên, vũ trụ và tạo hóa.

Đại tá Dương Văn Lượng, Tiến sĩ Triết học và hội viên Hội Nhà văn Việt Nam, từng trải qua tai biến và những biến cố gia đình. Tôi đã từng lo ngại ông khó có thể trở lại với thơ ca. Hóa ra tôi đã nhầm, đôi khi quên mất câu thơ đầy sức mạnh của Phùng Quán: “Tôi vịn câu thơ mà đứng dậy”.

Đã từng đọc Tự thức, Qua miền tối sáng, Gọi nắng; và giờ đây là Nâu trầm, tôi nhận ra rằng, Dương Văn Lượng vẫn miệt mài kiếm tìm câu trả lời ngay trong chính bản ngã của mình. “Lặng lẽ một đời chẳng hề hay biết/Tồn tại trong tôi cái không tôi” (trong bài “Cái không tôi”). Đó chính là ý thức bền bỉ đối với lao động sáng tạo, một hành trình khám phá không ngừng nghỉ.

Ngô Đức Hành

Nguồn: Nguồn bài viết