Võ Trọng Bình: Khám phá phẩm chất thanh liêm có một không hai.
9
Võ Trọng Bình (1808-1898) là danh nhân kiệt xuất của Quảng Bình, một quan lại tài năng, thanh liêm, chính trực đã phụng sự ba triều vua Minh Mạng, Thiệu Trị và Tự Đức trong hơn 50 năm. Ông từng giữ nhiều chức vụ quan trọng như Tổng đốc, Thượng thư, đại thần Cơ mật viện, nổi tiếng về sự minh bạch, không phiền hà dân chúng.
Trong sự nghiệp của mình, Võ Trọng Bình có nhiều đóng góp quan trọng như đề xuất khơi thông sông, xây đê, giảm thuế và hoãn binh dịch để giúp đỡ dân trong thiên tai. Vua Tự Đức đã nhiều lần biểu dương phẩm chất "Liêm, bình, cẩn, cán" (thanh liêm, công bằng, cẩn trọng, tài cán) của ông.
Dù từng bị cách chức trong bối cảnh lịch sử biến động, ông vẫn được phục chức và triều đình trọng dụng cho đến khi về hưu. Khi qua đời ở tuổi 91, Võ Trọng Bình được truy thụ và ca ngợi là "cựu thần thạc vọng, có tiếng thanh liêm", để lại tiếng thơm trong sử sách và lòng dân như một bậc quan "thật thà, không phù hoa, mang lại sự yên tĩnh cho dân".
(QBĐT) – Trong số các danh nhân kiệt xuất của Quảng Bình, Hiệp biện Đại học sĩ Võ Trọng Bình nổi bật với sự vinh danh đặc biệt và lượng thông tin phong phú được khắc ghi trên Mộc bản triều Nguyễn, di sản tư liệu thế giới được UNESCO công nhận.
Sinh năm 1808 tại huyện Phong Phú (nay thuộc xã An Thủy, Lệ Thủy), Võ Trọng Bình, tự Sư Án, đã ghi dấu ấn sự nghiệp từ sớm. Năm Minh Mạng thứ 15 (1834), ông thi đỗ hương tiến, sau đó kinh qua các chức vụ như Tri huyện Hòa Đa, nổi tiếng về sự minh bạch, thanh liêm. Tiếp đó, ông được thăng Giám sát ngự sử, thiên Hộ khoa chưởng án cấp sự trung, và cuối cùng là Án sát sứ Thái Nguyên.
Khi vua Thiệu Trị đăng quang năm 1841, Võ Trọng Bình được bổ nhiệm Bố chính sứ Phú Yên. Đến năm 1848, ông tiếp tục đảm nhiệm Phủ doãn phủ Thừa Thiên. Tại đây, ông đã có những kiến nghị quan trọng như khơi thông sông Lợi Nông, xây đê ngăn mặn, và giảm miễn 3/10 thuế công điền. Năm Tự Đức thứ 6 (1853), trong kỳ duyệt xét công tội, nhà vua đã biểu dương ông là người thanh liêm, không gây phiền hà cho dân, ban tặng chiếc khánh vàng tía hạng lớn khắc bốn chữ “Liêm, bình, cẩn, cán” và bổ nhiệm làm Tuần phủ Hưng Yên.
Nhà thờ Võ Trọng Bình ở thôn Lộc Thượng, An Thủy, Lệ Thủy.
Năm Tự Đức thứ 9 (1856), trong vai trò hộ lý Tổng đốc Ninh Thái, đứng trước thiên tai, bão lụt hoành hành khiến dân chúng lầm than, ông đã dâng sớ xin hoãn việc truy bắt lính trốn và nộp thuế còn thiếu. Kiến nghị này được nhà vua chấp thuận. Sau này, khi đê Hà Bắc vỡ, công cuộc trị thủy gặp nhiều khó khăn, các quan đình thần đã tiến cử ông như một bậc tài cán lão luyện. Ông được giao trọng trách quản lý đê chính, với lời dặn dò “phải hết mình” từ nhà vua.
Năm Tự Đức thứ 14 (1861), khi ông đang giữ chức thự Tổng đốc An Tĩnh, tin vui về một mùa màng bội thu tại Nghệ An đến tai vua, khiến nhà vua vui mừng ban thơ. Võ Trọng Bình nhân đó đã dâng tấu ba kế sách nhằm ổn định và an ủi dân chúng vùng Bắc kỳ. Được vua tán thưởng, ông liền được thăng chức Tổng đốc. Đến năm Tự Đức thứ 16 (1863), ông tiếp tục giữ trọng trách Thượng thư bộ Hộ, sau đó kiêm nhiệm công việc tại bộ Công và được sung chức đại thần Cơ mật viện. Nhận thấy sự kính trọng và yêu mến mà quan lại cùng dân chúng Nghệ An dành cho ông, nhà vua đã đặc cách ban thưởng thêm một cấp trác dị, một thẻ bài kim khánh hạng lớn khắc bốn chữ “Liêm, bình, cẩn, cán”, đồng thời cho phép con ông được thừa hưởng ân điển, ban thêm một phẩm trật, ghi vào sổ sách và thông báo rộng rãi để khích lệ. Dù ông khiêm tốn từ chối, vua không chấp thuận, lại ban dụ rằng “Ban thưởng để khuyến khích, đó là điển lệ, khen một người để khuyên trăm người, cũng là bắt đầu từ cái ý của họ Ngỗi”(1).
Đến kỳ đại kế xét công năm Tự Đức thứ 19 (1866), nhận thấy Võ Trọng Bình là người thanh liêm, cần mẫn, tài năng, và luôn để lại tiếng tốt wherever ông đi qua, nhà vua đã thăng ông chức Thự Hiệp biện đại học sĩ, nhưng vẫn giữ nguyên trọng trách cũ. Năm Tự Đức thứ 27 (1874), khi Mai Tấn nổi dậy ở Nghệ An, ông được điều động sang lĩnh chức Tuần phủ Nghệ An. Bằng sự kết hợp giữa trấn áp và phủ dụ, ông đã nhanh chóng dẹp yên được tình hình. Khi bộ Lại tiến hành xét duyệt, cân nhắc người tài, với phẩm chất thanh liêm, chính trực và tiết tháo vốn có, ông được chuyển sang giữ chức Tả Tham tri bộ Lại. Tuy nhiên, năm Tự Đức thứ 28 (1875), không lâu sau khi đảm nhiệm Hộ lý Tổng đốc các tỉnh Sơn Tây, Hưng Hóa và Tuyên Quang, ông đã xin cáo lão vì tuổi cao. Nhà vua không chấp thuận, mà ban dụ rằng “Khanh một lòng trung thành, trước sau không thay đổi, huống chi lỗi của khanh chưa được bù đắp, ơn của khanh chưa được ban thưởng. Lúc này đang gian nguy, sao khanh nỡ cáo lão. Chuẩn cho khanh được nhận chức”(2).
Khi vua Tự Đức chất vấn về phương cách trị dân mà ông đã đạt được sự yêu mến từ nhân dân, Võ Trọng Bình tâu rằng: “Không dung túng quan lại, nghiêm trị bọn trộm cướp, lệnh cho các phủ huyện không để kiện tụng kéo dài, và thuế lệ hàng năm phải được chiếu cố rõ ràng”(3). Vua Tự Đức, dù muốn ông làm việc tại bộ Lại, nhưng nhận thấy cần tận dụng trí tuệ và kinh nghiệm của ông ở địa phương, đã điều ông về Sơn Tây. Sau đó, ông được thuyên chuyển sang giữ chức Tổng đốc Định Yên, kiêm quản lý công việc vận chuyển đường thủy. Năm Tự Đức thứ 35 (1882), khi ông bước sang tuổi 70, nhà vua ban dụ rằng “Võ Trọng Bình đã phụng sự qua ba triều vua, tuy có lúc tính tình nóng vội gây vấp váp, nhưng một lòng chất phác, trung thành không đổi đến già. Trẫm ban thưởng tiền bạc, phẩm vật để khuyến khích công lao vất vả, chăm chỉ và thể hiện ý phụng dưỡng tuổi già”(4).
Tấm bia đá đặt tại nhà thờ Võ Trọng Bình.
Mùa xuân năm Tự Đức thứ 36 (1883) chứng kiến sự kiện quân Pháp từ Hà Nội vây hãm tỉnh thành. Trong bối cảnh hòa ước chưa định, quân triều đình tuy kiên cường chống trả nhưng do yếu thế về lực lượng và vũ khí thô sơ nên đã thất bại. Võ Trọng Bình bị cách chức, phải về kinh chờ xét tội. Tuy nhiên, đến năm Kiến Phúc thứ nhất (1883), ông được phục chức, đảm nhiệm Thương biện tỉnh vụ Nghệ An, rồi lại được triệu về triều, cất nhắc lên Thượng thư bộ Hộ. Vì tuổi cao, ông xin về hưu. Đầu năm Đồng Khánh thứ nhất (1886), ông được chuẩn nhận hàm Thượng thư, khi về hưu được ban ơn cấp một nửa bổng lộc.
Năm Thành Thái thứ 10 (1898), ông tạ thế tại quê nhà, hưởng thọ 91 tuổi. Chiếu chỉ từ triều đình ghi rõ: “Nguyên Thượng thư bộ Hộ gia hàm Hiệp biện đại học sĩ hưu trí Võ Trọng Bình chết. Trọng Bình là bậc cựu thần thạc vọng, có tiếng thanh liêm, làm quan trong ngoài huân lao với nước, sau vì tuổi già về trí sĩ năm Thành Thái thứ 3, kính vâng ý chỉ là bậc kỳ cựu thanh liêm tài cán của triều trước nên ban cho hàm ấy (Hiệp biện đại học sĩ). Đến lúc ấy chết, đặc chuẩn truy thụ, chiểu lệ cấp tiền tuất (700 quan) để tỏ ý ưu đãi thể thiếp”(5).
Sách Đại Nam liệt truyện đã có những nhận xét sâu sắc về con người ông: “Trọng Bình là người cứng rắn, thẳng thắn, thực thà, ngay thẳng, đi đến đâu cũng có tiếng liêm, bình, dẫu sở đoản về cách dùng binh, nhưng sở trường về cách trị dân, nên sau khi đi, dân vẫn thường nhớ”(6). Với hơn 50 năm phụng sự triều đình khắp trong ngoài, ông xứng đáng với câu “Khổn bức vô hoạ, an tĩnh chi lại” – nghĩa là thật thà, không phù hoa, mang lại sự yên tĩnh cho dân. Tấm gương liêm chính, ngay thẳng, thật thà của ông còn được ca ngợi trong sách Trung nghĩa ca, liên quan đến cuộc khởi nghĩa Đoàn Trưng, Đoàn Trực: “Thanh liêm một Võ Trọng Bình Thành nghiêng muốn chống một mình sao xong”
Lăng mộ Thượng thư Võ Trọng Bình uy nghi tọa lạc trên triền đồi Lục Sơn, thuộc xã Trường Thủy, Lệ Thủy, được dân làng kính cẩn gọi là “lăng quan Thượng”. Mộ quay về hướng Tây. Do lo ngại sự bào mòn của thời gian và thời tiết, con cháu nội tộc đã di dời tấm bia gốc về cất giữ tại quê nhà. Đến năm 2003, khi xây dựng nhà thờ trên nền đất cũ tại thôn Lộc Thượng, hậu duệ đã dựng lại tấm bia này ngay trước bình phong. Tấm bia đá cao khoảng 102cm, phần trán bia rộng 60cm, thân bia rộng 50cm, mang đậm phong cách văn bia triều Nguyễn. Dù trải qua bao mưa nắng, nhiều nét chữ đã mờ phai, nhưng vẫn còn rõ dòng “Bi ký”, “Thành Thái thập tứ niên, tam nguyệt sơ thập nhật”, cho biết bài ký trên bia được hoàn thành vào ngày 10 tháng 3 năm Thành Thái thứ 14 (1902), tính đến nay đã tròn 122 năm.
Tấm gương “liêm, bình, cẩn, cán” của Võ Trọng Bình vĩnh viễn được sử sách triều Nguyễn ngợi ca và hậu thế ghi nhớ.
Nhật Linh
(1), (2), (3), (4) Trung tâm Lưu trữ quốc gia IV, Tổng tập công thần triều Nguyễn qua tài liệu Mộc bản-Di sản tư liệu thế giới, NXB Chính trị quốc gia sự thật, Hà Nội, 2016, tập 2.
(5) Quốc sử quán triều Nguyễn, Đại Nam thực lục chính biên đệ lục kỷ phụ biên, NXB Văn nghệ TP. Hồ Chí Minh, TP. Hồ Chí Minh, 2012.
(6) Quốc sử quán triều Nguyễn, Đại Nam liệt truyện, NXB Thuận Hóa, Huế, 2014, tập 3-4.