Quảng Trị: Tương đồng văn hóa vùng giáp ranh có gì đặc biệt?

20

Bài báo khám phá những điểm tương đồng sâu sắc về văn hóa giữa hai huyện Vĩnh Linh và Lệ Thủy của tỉnh Quảng Trị, vốn dĩ từng thuộc hai tỉnh khác nhau. Những nét tương đồng này thể hiện rõ rệt qua các yếu tố địa lý, lịch sử, văn hóa dân gian, phong tục tập quán, ẩm thực, phương ngữ và cả tính cách con người. Từ những câu ca dao ngợi ca quê hương hay triết lý sống đến các hình thức diễn xướng dân gian như hò giã gạo, hát bài chòi, chèo cạn làng Tùng Luật và hò khoan Lệ Thủy đều chứng minh mối quan hệ láng giềng thân thiết và sự lan tỏa văn hóa. Dù có lịch sử hành chính riêng biệt, các truyền thống văn hóa dân gian này đã trở thành tài sản chung, bồi đắp cho nội lực văn hóa của cả hai vùng khi đã về chung một tỉnh.

QTO – Chúng tôi xin đề cập đến khu vực bao gồm hai huyện liền kề Vĩnh Linh và Lệ Thủy, vốn dĩ từng là hai đơn vị hành chính thuộc hai tỉnh khác nhau, nay đều thuộc về tỉnh Quảng Trị. Hai vùng đất này không chỉ sở hữu những nét văn hóa đặc thù riêng biệt mà còn chứa đựng nhiều điểm tương đồng đầy thú vị.

Nằm trong khu vực Bắc Trung Bộ và có vị trí địa lý giáp ranh, văn hóa Vĩnh Linh và Lệ Thủy thể hiện rõ rệt nhiều sự tương đồng. Điều này dễ dàng nhận thấy qua việc khảo sát các yếu tố gần gũi về địa lý, lịch sử, văn hóa dân gian, phong tục tập quán, ẩm thực và phương ngữ của cả hai vùng. Ngay cả trong tính cách con người, chúng ta cũng có thể tìm thấy nhiều điểm chung nổi bật như sự gan góc, kiên cường, cần cù, thủy chung và khiếu hài hước.

Biểu diễn văn nghệ quần chúng tại Vĩnh Linh - Ảnh: Trần Tuyền
Biểu diễn văn nghệ quần chúng tại Vĩnh Linh – Ảnh: Trần Tuyền

Trong kho tàng văn học dân gian phong phú, chúng ta bắt gặp câu ca dao ngợi ca Lệ Thủy: “Lệ Thủy gạo trắng nước trong/Ai về Lệ Thủy thong dong con người”. Song hành đó, Vĩnh Linh cũng có câu: “Nước Cửa Tùng vừa trong, vừa mát/ Đường Cát Sơn mịn cát dễ đi”.

Hai câu ca dao trên, bằng ngôn ngữ mộc mạc và cảm quan chân thật, đều cất lên lời ngợi ca vẻ đẹp quê hương, thể hiện niềm tự hào sâu sắc về nơi chôn nhau cắt rốn. Chúng tạo nên một cảm giác thân thương, gần gũi đến mức, nếu hoán đổi địa danh, nội dung biểu đạt vẫn không mấy khác biệt, vẫn giữ nguyên sự phù hợp, phản ánh mối quan hệ láng giềng thân thiết, “tối lửa, tắt đèn có nhau” giữa hai vùng đất.

Một ví dụ khác là câu ca dao quen thuộc vang vọng từ Lệ Thủy: “Nhịn nhau một chút cho xinh/ Ai sợ chi mình, mình sợ chi ai”. Câu này hàm chứa triết lý sống về sự ứng xử khéo léo, biết nhường nhịn lẫn nhau mà không phải vì sợ hãi, thể hiện sự thấu tình đạt lý. Hiện nay, câu ca này cũng trở nên phổ biến ở nhiều làng quê Vĩnh Linh và phía Nam tỉnh Quảng Trị, được coi là nguyên tắc ứng xử, là nét đẹp trong đạo lý đối nhân xử thế. Điều này càng minh chứng cho sự tương đồng trong lời ăn tiếng nói dân gian, đã có từ xa xưa và lan tỏa, trở thành tài sản chung trong kho tàng văn hóa của cả Lệ Thủy và Vĩnh Linh.

Tương tự, do cùng nằm trong khu vực cư dân lúa nước, hình thức hò giã gạo đã tồn tại lâu đời ở cả Lệ Thủy và Vĩnh Linh. Ngoài ra, hát bài chòi và các lễ hội cầu ngư cũng là những nét văn hóa tương đồng dễ nhận thấy.

Cần lưu ý rằng, nghệ thuật bài chòi chỉ phổ biến từ khu vực Quảng Bình (cũ) trở vào phía Nam, không xuất hiện ở Hà Tĩnh trở ra, mặc dù các vùng này có sự gần gũi về lịch sử, địa lý và văn hóa. Theo nhiều nhà nghiên cứu, bài chòi là một nghệ thuật tổng hợp bao gồm thi ca, âm nhạc, hội họa… thường được trình diễn vào mùa xuân để chào mừng Tết Nguyên đán.

Những ai đã từng thưởng thức bài chòi tại Vĩnh Linh và Lệ Thủy hẳn sẽ đồng cảm với nhận xét của Thạc sĩ Sử học Cái Thị Vượng, một nhà nghiên cứu tâm huyết với văn nghệ dân gian Quảng Trị: “Người chạy bài/hô thai thường mặc trang phục đời thường của họ, chính là bộ bà ba truyền thống của người Quảng Trị, với chất liệu và màu sắc giản dị, thường là đen hoặc nâu sòng. Để tạo sự khác biệt với khán giả trong hội chơi, trang phục của họ chỉ được điểm xuyến vài nét nhỏ như thắt nơ trên đầu hoặc buộc đai bên hông.

Các động tác biểu diễn của họ hoàn toàn không có sự can thiệp của đạo diễn sân khấu, không có kỹ thuật dàn dựng chuyên nghiệp, mà tất cả đều xuất phát từ sự ngẫu hứng tự nhiên, không theo bất kỳ bài bản hay quy cách cụ thể nào. Thông thường, mỗi cuộc chơi có khoảng 2 đến 4 người thay phiên nhau hô thai. Ngôn ngữ của các câu hô thai chân chất, dung dị, lời thơ mộc mạc, gần gũi với đời sống, hợp tình hợp lý. Khi diễn đạt, họ thường sử dụng kiểu ngụ ngôn, thành ngữ, ngắn gọn, dễ nhớ. Khi pha trò, họ đi theo lối truyện tiếu lâm dân gian ngô nghê, hóm hỉnh. Còn khi thách đố, mặc dù lời lẽ rất dân dã, mộc mạc, nhưng cách giải nghĩa lại thanh thoát đến lạ thường”.

Một điểm tương đồng thú vị khác, xét về nguồn gốc mà ít người chú ý, đó là chèo cạn làng Tùng Luật, xã Vĩnh Giang (cũ) và hò khoan Lệ Thủy. Xin được nhắc lại rằng, làng Tùng Luật được chọn là nơi ra mắt xây dựng làng văn hóa đầu tiên của tỉnh Quảng Trị (cũ) không phải là ngẫu nhiên.

Chèo cạn làng Tùng là một hình thức diễn xướng dân gian mô phỏng hình ảnh lao động và tình cảm con người trên vùng sông nước, ra đời từ dòng nước Bến Hải xuôi về Biển Đông, cũng nổi tiếng không kém. Trong khi đó, hò khoan Lệ Thủy thường gắn liền với lễ hội đua thuyền, có nguồn gốc từ dòng Kiến Giang của vùng quê vang danh “Nhất Đồng Nai, nhì hai huyện”, và đã được công nhận là di sản văn hóa phi vật thể quốc gia. Làng Tùng Luật đã sản sinh và nuôi dưỡng nhiều nghệ nhân, nghệ sĩ tài hoa, tâm huyết như Ái Chủng, Ba Mè… trước đây và sau này là NSND Châu Loan, NSƯT Sĩ Cừ, NSƯT Kim Phú… Còn hò khoan Lệ Thủy đã trở thành niềm tự hào không chỉ của riêng vùng đất này mà còn thể hiện sức sống bền bỉ, lan tỏa sâu rộng.

Mới đây, khi đến Lệ Thủy, chúng tôi đã được nghe nghệ nhân ưu tú Nguyễn Thị Lý cùng các nghệ nhân Lê Thị Hồng Hạnh, Ngô Lực, ở thôn Đại Phong trình diễn hò khoan Lệ Thủy, ca ngợi quê hương đất nước và đặc biệt là Đại tướng Võ Nguyên Giáp – vị Đại tướng của lòng dân, mang lại nhiều xúc động. Cả hai hình thức sinh hoạt văn nghệ dân gian là chèo cạn làng Tùng và hò khoan Lệ Thủy đều có sự tương đồng về nguồn gốc và gần gũi về nội dung.

Hy vọng rằng, khi đã về chung một mái nhà, các vùng quê trong tỉnh sẽ có thêm phù sa bồi đắp cho nội lực văn hóa, bổ sung và hỗ trợ lẫn nhau trong các hoạt động văn hóa, du lịch, tạo nên những liên kết hữu ích, góp phần vào những kiến tạo mới mẻ vì quốc kế dân sinh.

Phạm Xuân Dũng