Tác giả bày tỏ nỗi nhớ và tình yêu sâu sắc dành cho người mẹ qua những ký ức sống động về ngôi nhà, khu vườn và hình ảnh mẹ trong mỗi lần hồi hương. Cuộc đời mẹ là chuỗi ngày lam lũ, vất vả trong thời bao cấp, gánh vác mọi công việc nặng nhọc từ trồng dâu nuôi tằm đến làm thêm để nuôi nấng năm người con. Dù đối mặt với bao khó khăn, mẹ chưa từng than vãn, luôn hy sinh thầm lặng, đặt hạnh phúc và sự trưởng thành của con cái lên trên hết. Giờ đây, khi mẹ đã già và mái tóc bạc trắng, tác giả vẫn luôn khắc ghi dáng hình hao gầy và tình yêu thương ấm áp, bình yên của mẹ, cảm nhận sự bất biến của tình mẫu tử giữa dòng chảy thời gian.
(QBĐT) – Mỗi chuyến hồi hương, tâm trí tôi lại khắc khoải tự vấn: Giờ này, mẹ đang làm gì? Dù bao lần xa cách rồi trở về, xúc cảm hoài vọng ấy vẫn luôn vẹn nguyên, tràn ngập. Tôi nhớ lối vào ngõ nhỏ điểm xuyết sắc hoa tóc tiên dịu dàng trong ánh dương, nhớ ô cửa sổ xanh biếc nhìn ra khu vườn cải vàng lay động theo gió, nhớ chiếc bể nước mưa nhuốm màu rêu phong cổ kính. Đó là hình ảnh mẹ, luôn hiện hữu trong tâm khảm tôi!
Giữa buổi chiều chạng vạng, dáng mẹ trầm tư chải tóc, bóng hình in chập chờn trên bức tường thời gian. Đôi bàn tay, hằn sâu dấu ấn năm tháng với những nếp nhăn và đốm đồi mồi, vẫn vẹn nguyên nhiệm vụ đón con về và tiễn con đi. Mỗi bận hồi hương, tôi đều lặng lẽ ngắm nhìn mẹ: khi cặm cụi quét dọn thềm nhà, lúc tần tảo bên bếp lửa. Chỉ đến khi tôi xuất hiện, mẹ mới giật mình, thoạt tiên là một tiếng mắng yêu: “Cha bố anh, về mà không báo trước cho mẹ một tiếng…”. Tôi mỉm cười, ôm lấy đôi vai gầy guộc của mẹ, nhận ra mái tóc đã bạc trắng như hoa lau. Từng sợi tóc ấy, tôi thấu hiểu, là sự đắp đổi bằng bao tháng ngày lam lũ, là minh chứng không thể phai mờ của thời gian và những hy sinh mà mẹ đã trải qua.
Dù ký ức thường mang màu thời gian, nhưng với tôi, những hồi ức về mẹ, về tuổi thơ khốn khó, lam lũ, về tình yêu thương, nỗi buồn và cả những nuối tiếc, vẫn luôn hiển hiện rõ nét trong tâm trí. Chúng như một thước phim quay chậm, một cuốn nhật ký vô hình luôn đồng hành cùng tôi mỗi khi nghĩ về người. Thuở ấy, vào thập niên 70 của thế kỷ trước, mẹ tôi là một nữ công nhân trồng dâu, nuôi tằm, xinh đẹp bên bờ sông Đáy. Cha tôi khi ấy là người lính thông tin đang chiến đấu nơi mặt trận phía Nam. Tôi cất tiếng khóc chào đời đúng vào năm miền Nam hoàn toàn giải phóng, đánh dấu một chương mới của đất nước và gia đình.
Mẹ thường kể, vào tháng ba năm ấy, đúng cữ rét nàng Bân tê tái, ngoài trời mưa phùn bay lất phất, gió bấc lạnh buốt, hoa gạo rụng đỏ thắm cả không gian, mẹ đã hạ sinh tôi tại trạm y tế nằm giữa cánh đồng dâu, lúa mênh mông xào xạc. Tôi chào đời với tiếng khóc dạ đề dai dẳng suốt ba ngày ba đêm. Hậu sản, mẹ suy nhược trầm trọng và kiệt sức vì thiếu thốn dinh dưỡng. Từ mái tóc dày mượt, đen nhánh thuở con gái, mái tóc mẹ bắt đầu rụng dần, rồi lốm đốm những sợi bạc đầu tiên xuất hiện, báo hiệu sự hao mòn của tuổi trẻ.
Khi cha trở về sau chiến tranh, tài sản duy nhất ông mang theo từ chiến trường chỉ là một chiếc hòm đạn cũ kỹ. Mẹ vỡ òa niềm vui khi thấy cha toàn vẹn, và sau đó ông được chuyển ngành, công tác tại ban nông nghiệp của huyện. Mẹ tôi, không quản ngại khó nhọc, vẫn thức khuya dậy sớm với nghề trồng dâu, chăn tằm. Thời bao cấp ấy, ai ai cũng đối mặt với gian truân, cực khổ, nhưng có lẽ, công việc ươm tơ, quay sợi, trồng dâu, chăn tằm lại càng vất vả gấp bội phần so với những ngành nghề khác.
Trong ký ức những người đồng nghiệp, câu ca dao “Làm ruộng ăn cơm nằm, nuôi tằm ăn cơm đứng” đã trở thành lời nhắc nhở quen thuộc về sự khắc nghiệt của nghề. Trại dâu tằm xưa, nay chỉ còn là hoài niệm. Mỗi khi nhớ lại, tôi vẫn mường tượng rõ dáng mẹ áo mỏng, thân gầy, lụi cụi giữa trưa hè bỏng rát, hái dâu trên cánh đồng nắng như đổ lửa. Mẹ chưa từng một lời than vãn, cũng chẳng màng cầu mong điều gì cho riêng mình. Ước nguyện lớn nhất của mẹ chỉ là vào những tháng ba giáp hạt, gia đình đủ gạo ăn, và các con được lớn lên khỏe mạnh, trưởng thành.
Sau này, dẫu có đi xa vạn dặm, mỗi lần hồi hương, lòng tôi lại quay quắt nhớ về trại dâu tằm năm nào, nhớ những đồng nghiệp của mẹ, nhớ những đứa trẻ sinh ra và lớn lên trong gian khó sau chiến tranh tại nơi ấy. Nhiều bận, tôi tìm về con dốc dẫn vào cơ quan cũ của mẹ. Khu tập thể với những căn nhà cấp bốn lợp ngói, trường học, trạm y tế và những bãi dâu xanh ngút ngàn ngày xưa đã hoàn toàn biến mất, nhường chỗ cho một khu công nghiệp vừa và nhỏ, nơi sinh kế mới của các hộ dân sau khi cơ quan cũ giải thể.
Chỉ vài năm trước đây, vẫn còn sót lại vài ba lò vôi, lò gạch cũ kỹ bị bỏ hoang, trầm mặc bên cạnh hai cây gạo cổ thụ. Mỗi độ tháng ba về, hoa gạo rụng đỏ thắm những lối mòn, trở thành khung cảnh lãng mạn cho lũ trẻ làng bên đến chụp ảnh. Tôi mãi nhớ những lò vôi, lò gạch ấy, bởi đó là nơi mẹ thường đến xí nghiệp đốt vôi, gánh đá thuê vào những ngày cuối tuần. Gia đình đông con, mẹ dù “chân yếu tay mềm” vẫn gồng gánh một mình, chấp nhận những công việc nặng nhọc để mưu sinh, nuôi nấng cả gia đình.
Gần như suốt năm dài tháng rộng, mẹ chưa từng một phút ngơi nghỉ, luôn đầu tắt mặt tối lo toan miếng ăn, manh áo cho năm đứa con thơ. Cha tôi, do bận công tác trên huyện, cuối tuần mới có một buổi về nhà, nên hiếm khi san sẻ được gánh nặng cùng mẹ. Cuộc đời mẹ là chuỗi dài những gian truân, vất vả, không quản ngại nắng mưa, khuya sớm, hay bất kỳ khó khăn, hiểm nguy nào. Mẹ là người phụ nữ nhanh nhẹn, đảm đang, tháo vát, luôn tự nguyện gánh chịu mọi vất vả, thiệt thòi về mình. Có lẽ, chính guồng quay nghiệt ngã của cuộc sống, với bốn lần chuyển nhà và ba lần đổi cơ quan, luôn phải đùm túm gánh theo đàn con nhỏ dại, đã đủ để khiến mái tóc mẹ thêm phần bạc trắng.
Giờ đây, mẹ đã về hưu theo chế độ, an hưởng tuổi già bên ngôi làng cũ, trong căn nhà với mảnh vườn yên bình mà ông bà để lại. Suốt cả cuộc đời lao động miệt mài, từ thuở tóc xanh đến khi tóc bạc trắng, gia tài mà cha mẹ tôi tích lũy được chỉ vẻn vẹn một chiếc hòm tôn để chứa lúa, lạc, đậu, đỗ, cùng một chiếc tủ gỗ hai mặt kính dùng để đựng thuốc y tế, với dấu cộng đỏ nổi bật phía trước. Chiếc tủ này là vật thanh lý từ cơ quan khi mẹ còn làm nhân viên y tế. Còn cha, ông mang về từ chiến trường một chiếc hòm đạn cá nhân, bên trong chất đầy bằng khen, huân huy chương, giấy chứng nhận thương bệnh binh, chiếc đài VEF 206 của Liên Xô và những bức thư ông gửi cho mẹ từ những ngày tháng quân ngũ.
Tôi mãi khắc ghi hình ảnh cha mẹ tóc muối tiêu, sánh bước bên nhau trên cánh đồng làng bình yên, trong làn gió chiều lộng. Mẹ thường nói, tài sản quý giá nhất mà cha mẹ có được chính là nhìn thấy các con mình trưởng thành. Cha tôi, dù kiệm lời, nhưng ẩn sau vẻ nghiêm khắc là cả một tấm lòng hy sinh vô bờ bến, trọn đời vì con cái.
Chiều nay, trở về, tôi bắt gặp hình ảnh mẹ đang ngồi nhóm bếp. Mùi khói, mùi vỏ trấu, mùi rơm rạ quyện vào nhau, lan tỏa ngát thơm khắp căn bếp, khiến lòng tôi chùng xuống một nỗi niềm khó tả. Tôi lặng lẽ đứng bên hàng hiên, ngắm nhìn dáng mẹ hao gầy, mái tóc đã bạc trắng như hoa lau điểm xuyết thời gian, và từng nếp nhăn hằn sâu trên khuôn mặt, khắc ghi bao thăng trầm năm tháng. Bỗng nhớ những vần thơ của thi sĩ Đỗ Trung Lai: “Ngẩng hỏi giời vậy/sao mẹ ta già/không một lời đáp/mây bay về xa”. Chẳng có lời đáp nào, chỉ còn tiếng củi lửa nổ tí tách và hương thơm dịu dàng của lá hương nhu, bồ kết vừa gội trên mái tóc mẹ, đủ làm ấm nồng cả không gian căn nhà như mùa xuân bất tận.
Đinh Tiến Hải
Nguồn: Nguồn bài viết













