Mãi đợi anh không về: Nỗi đau tình yêu tan vỡ

11

Bài báo là hồi ức của một người con Quảng Thuận về trạm giao liên cuối cùng của miền Bắc sau Hiệp định Paris, nơi các đoàn quân dừng chân trên đường vào Nam chiến đấu. Tác giả kể lại tình quân dân sâu nặng, khi gia đình và dân làng nghèo khó luôn sẵn lòng nhường nơi ăn chốn ngủ cho bộ đội. Kỷ niệm đáng nhớ nhất là lần đón Tết Giáp Dần (1974) cùng một đơn vị, đặc biệt là sự gắn bó với người lính trẻ Thắng, người đã viết đơn bằng máu để xung phong ra trận khi chưa đầy 17 tuổi. Anh Thắng đã trao tặng tác giả cuốn sổ tay và tờ đơn, hứa sẽ trở về nhưng đã vĩnh viễn không quay lại. Dù gần 50 năm đã trôi qua và kỷ vật đã mất, tác giả vẫn giữ trọn vẹn nỗi nhớ, niềm tin về anh Thắng, về một phần ký ức hào hùng của dân tộc.

(QBĐT) – Tổ A1-B2 di chuyển đến các gia đình đã được chỉ định!
 
– Tổ A2-B3 tiến vào các địa điểm này, và cả địa điểm này nữa!
 
Đó là những mệnh lệnh quen thuộc vang vọng từ đội ngũ cán bộ trạm giao liên. Âm thanh rõ ràng, dứt khoát ấy, hòa cùng bước chân dồn dập của những người lính, tiếng chó sủa ran rát và ánh đèn pin chớp nháy, đã trở thành một phần quen thuộc của mỗi đêm trên khắp nẻo đường làng, ngõ xóm quê tôi thuở ấy.
 
Sau khi Hiệp định Paris được ký kết, một trạm giao liên quan trọng đã được thiết lập tại xã Quảng Thuận (Quảng Trạch), ngay nơi con phà Gianh vừa trải qua những tháng ngày khốc liệt dưới làn đạn bom. Vị trí này đánh dấu trạm giao liên cuối cùng của miền Bắc trên trục Quốc lộ 1, một điểm dừng chân mang ý nghĩa bình yên trước khi những đoàn quân lặng lẽ xuôi nam. Từ đây, họ men theo đường 20, hòa vào dòng chảy huyền thoại của Đường Hồ Chí Minh, tiến sâu vào chiến trường miền Nam để thực hiện sứ mệnh giải phóng và thống nhất đất nước.
 
Thuở ấy, làng quê tôi chìm trong cảnh nghèo khó. Đa phần là những căn nhà tranh vách đất, với tiện nghi đơn sơ như chõng tre. Hiếm hoi lắm mới có vài ba ngôi nhà ngói kiên cố, còn lưu giữ những chiếc giường gỗ cổ xưa, và gia đình tôi may mắn sở hữu một trong số đó. Dẫu vậy, căn nhà chỉ vỏn vẹn khoảng 50m2, đủ không gian cho tám con người quây quần trong sự chật chội. Thế nhưng, tình người luôn rộng mở; mọi thành viên đều sẵn lòng nhường lại giường và chõng tre cho bộ đội, bản thân an vị trên những manh chiếu trải dưới nền nhà.
 
Các đoàn quân hành quân lặng lẽ, đến khi màn đêm buông xuống và rời đi cũng trong tĩnh lặng. Thông thường, họ sẽ dừng chân nghỉ lại một ngày đêm, nhưng cũng không ít lần chỉ thoáng qua trong bóng tối. Dân làng tôi, ngày lo toan mưu sinh, đêm lại thao thức cùng bước chân của người lính. Dù thời gian gặp gỡ ngắn ngủi, những khoảnh khắc đẹp về tình quân dân vẫn in đậm. Trong bối cảnh ấy, những mối tình chớp nhoáng đã nảy nở. Mặc dù ý thức được sự chia ly có thể là vĩnh viễn, các thôn nữ vẫn dũng cảm dâng hiến trái tim mình cho một tình yêu không hẹn ngày trở lại. Để rồi, sau ngày miền Nam giải phóng, những cuộc đợi chờ mỏi mòn trong nước mắt không chỉ thuộc về các cặp đôi, mà còn của những tâm hồn thơ trẻ như tôi.
 
Khi đó, tôi là một học sinh lớp một. Mỗi đêm, sau buổi học, tôi lại quây quần bên ba, lắng nghe đài và dõi theo từng bóng người lính. Dù ngày nào cũng có bộ đội lưu lại, nhưng chỉ vắng mặt một chút thôi cũng đủ khiến tôi cảm thấy nhớ nhung khôn tả. Với tôi, tên tuổi không quan trọng, chỉ cần nhìn thấy và cất tiếng gọi “Chú bộ đội” là cảm xúc lại dâng trào. Đôi khi, đợi mãi đến khuya mà vẫn chưa thấy các chú về, tôi đành phải đi ngủ trong niềm mong ngóng bồn chồn.
 
Ấy vậy mà, khi những âm thanh thân thuộc bất ngờ vang lên, tôi lập tức bừng tỉnh, sẵn sàng cùng gia đình chào đón những người lính. Tôi tự nguyện trải chiếu nằm dưới đất, không cần ba phải bế xuống như những đứa em nhỏ. Thông thường, sẽ có một “cuộc tranh luận” cảm động diễn ra giữa bộ đội và gia đình, bởi ai nấy cũng “khăng khăng” muốn nhường chỗ tốt nhất và chọn nằm dưới nền nhà. Cuối cùng, “phần thắng” luôn thuộc về những giọt nước mắt của các bà mẹ, khi họ nghẹn ngào thốt lên: “Đây là bữa cuối cùng các con, các em còn được nằm giường, chõng ở miền Bắc này đấy!”.
Minh họa: Minh Quý
                                                                                          Minh họa: Minh Quý
Có những đêm, số lượng bộ đội về quá đông, gia đình tôi phải tiếp đón cả một tiểu đội gồm 12 người. Bà tôi, vì tuổi cao lưng còng, thường không bao giờ được phép nhường giường cho các chú bộ đội. Nhưng đêm hôm ấy thì khác. Bà tha thiết nói: “Xin các con hãy cho mạ được một lần góp sức vào công cuộc đánh giặc!”. Nghe vậy, chú tiểu đội trưởng đã ôm lấy bà khóc nức nở, đặt nụ hôn trân trọng lên vầng trán nhăn nheo của bà.
 
Với tôi, có lẽ mọi chuyện sẽ chỉ dừng lại ở những kỷ niệm thường nhật như thế, nếu không có một sự kiện đặc biệt. Vào hai giờ sáng ngày 30 Tết Giáp Dần (1974), một đơn vị bộ đội đã bất ngờ ghé đến và ngỏ ý muốn ở lại đón Tết cùng dân làng. Lòng tôi tràn ngập sự bán tín bán nghi xen lẫn hồi hộp. Thế rồi, điều kỳ diệu đã xảy ra, các chú bộ đội thực sự ở lại để cùng gia đình tôi đón giao thừa.
 
Thường lệ, ba tôi không bắn pháo giao thừa mà giữ lại đến sáng mồng một. Nhưng hôm đó, vì có bộ đội, lệ cũ đã bị phá bỏ. Sau những tràng pháo rộn ràng khắp xóm làng, các chú bộ đội thân tình bày kẹo, bánh bích quy mời cả nhà cùng ăn Tết. Ánh mắt tôi đặc biệt dừng lại ở một chú lính rất trẻ. Chú ít nói, ăn uống cũng rất dè dặt, thỉnh thoảng lại lặng lẽ ra ngoài một lát rồi trở vào với đôi mắt đỏ hoe. Một lần, tôi rón rén theo sau và kịp nghe chú thổn thức: “Mẹ ơi, con nhớ mẹ quá!”, rồi vội vã lau nước mắt quay vào.
 
Cử chỉ ấy của chú bộ đội đã khiến cả gia đình tôi chú ý. Nhận thấy sự quan tâm, chú tiểu đội trưởng liền giới thiệu: “Thưa gia đình, đây là đồng chí Thắng, chưa đầy 17 tuổi, nhưng đã viết đơn bằng máu để xin được ra chiến trường miền Nam đánh giặc.” Bà tôi xúc động ôm chặt chú Thắng, vỗ về lưng chú và nghẹn ngào nói: “Mẹ đây, mẹ đây!”. Riêng tôi, nằng nặc đòi được ngủ cùng chú Thắng. Đêm hôm đó, chúng tôi trải chiếu ở một góc nhà và thức trắng. Anh Thắng nhỏ nhẹ năn nỉ tôi: “Đừng gọi bằng chú nữa, hãy gọi bằng anh đi!”. Sau đó, anh Thắng bắt đầu kể cho tôi nghe về hoàn cảnh gia đình mình. Giọng anh khá khó nghe, đôi lúc tôi phải hỏi lại để hiểu rõ hơn.
 
Anh Thắng quê ở Hải Hậu, Nam Định. Anh kể, làng anh vốn là làng chài, nên giọng nói của người dân vùng biển thường khó nghe hơn so với vùng nông nghiệp. Anh mồ côi cha khi ông mất tích trong một chuyến đi biển. Anh là con trai độc nhất trong gia đình có ba chị gái, tất cả đều đã lập gia đình. Ở làng anh, hầu như gia đình nào cũng có con trai tham gia quân đội, thậm chí có nhà đến hai, ba người. Chỉ riêng gia đình anh là chưa có. Anh Thắng hiểu rằng, ngay cả khi đủ tuổi, anh cũng khó lòng được chấp thuận nhập ngũ. Chính vì vậy, nhiều đêm anh đã giãi bày tâm sự, khẩn khoản xin mẹ cho phép mình lên đường đánh giặc, đồng thời hứa sẽ trở về nguyên vẹn.
 
Sau đó, anh đã viết đơn tình nguyện, ký tên bằng máu. Trải qua nhiều lần kiên trì làm việc với cấp huyện, cấp xã, cuối cùng nguyện vọng của anh cũng được chấp thuận. Anh Thắng cho tôi xem lá đơn của mình. Tôi thắc mắc tại sao không thấy có dấu vết máu. Anh giải thích, đây chỉ là bản nháp; có hai bản chính được ký bằng máu, một bản gửi chính quyền và một bản mẹ anh đang cất giữ. Lá đơn khá dài, nhưng cho đến tận bây giờ, tôi vẫn nhớ như in một câu: “…“Đánh cho Mỹ cút, đánh cho Ngụy nhào” không chỉ là nhiệm vụ riêng của những người trên 18 tuổi…”.
 
Niềm vui vỡ òa khi tôi nghe tin các chú bộ đội sẽ ở lại ăn Tết đến hết kỳ. Suốt cả ngày mồng một, bất kể mọi người xung quanh vui chơi hay làm gì, tôi và anh Thắng cứ quấn quýt không rời. Anh tặng tôi một quyển sổ tay mới. Anh Thắng có một năng khiếu đặc biệt, anh đã viết lên trang sổ dòng chữ “KỶ NIỆM SÔNG GIANH 1974” bằng kiểu chữ bóng lồng vô cùng đẹp mắt. Sau đó, anh còn chép tặng tôi rất nhiều bài hát, nào là “Bức thư viết dở”, “Đi bất cứ nơi đâu khi Tổ quốc cần”, rồi “Bài ca về đường 9”. Anh còn kiên nhẫn tập hát cho tôi câu: “Đường 9 ơi đường 9, bên kia bờ Vĩnh Linh, hậu phương lớn, đang hướng về tiền tuyến. Vững tin ngày chiến thắng không xa, cùng hát lên bài ca, đường 9 anh hùng…”. Anh trao cho tôi tờ đơn tình nguyện của mình, dặn dò tôi cất giữ thật cẩn thận cùng quyển sổ và hứa sẽ trở về để chép thêm nhiều bài hát nữa. Thỉnh thoảng, anh lại bất ngờ úp mặt khóc nghẹn, nhưng rồi lại nhanh chóng lấy lại vẻ rắn rỏi. Anh đặc biệt dặn tôi không được kể cho ai biết anh nhớ mẹ.
 
Sáng mồng 2 Tết, tôi thức giấc và không còn thấy anh Thắng nằm cạnh. Nước mắt tôi òa ra, nức nở chạy khắp nơi tìm anh, từ bờ ruộng đến bụi tre. Bà tôi ôm lấy tôi, dịu dàng giải thích: “Chú Thắng đã đi từ bốn giờ sáng rồi. Chú dặn để cháu ngủ, kẻo cháu khóc, chú sẽ không nỡ rời đi.” Tôi oán trách một lúc, rồi chợt nhận ra rằng anh Thắng còn gánh vác nhiệm vụ quan trọng là đi đánh giặc, nên không còn giận dỗi nữa. Lòng tôi tràn ngập niềm thương cảm vô bờ bến dành cho anh Thắng.
 
Sau Tết Ất Mão (1975), những tin tức chiến thắng từ miền Nam liên tiếp dồn dập bay về. Chiếc “Đài Tiếng nói Việt Nam” nhỏ bé của ba tôi được mở hết công suất suốt cả ngày. Chiếc đài ba pin ấy đôi khi phải ghép đến sáu viên pin đã chảy nước mới có thể hoạt động. Cả xóm làng tụ tập lắng nghe, vừa hồ hởi vỗ tay, lại có khi sụt sịt khóc. Tin chiến thắng Buôn Ma Thuột, Huế-Đà Nẵng, Long Khánh, Đồng Nai đã khiến lòng người vô cùng phấn khởi.
 
Giữa những ngày đó, một chú thương binh trở về Bắc, ghé thăm ngôi nhà mà chú từng tá túc. Điều này càng làm tôi khao khát được gặp lại anh Thắng. Tôi chen vào, vội vàng hỏi: “Chú có gặp anh Thắng của cháu không ạ?”. Chú xoa đầu tôi, trấn an: “Yên tâm, anh Thắng của cháu sẽ về trong ít bữa nữa, giống như chú đây.”
Ngày 30 tháng 4 lịch sử đã đến, Tổ quốc thống nhất. Miền Nam – miền Bắc nối liền ruột thịt. Những người lính trở về làng, có người sum họp trong niềm vui, có người lại khóc thương đồng đội đã mất. Trạm giao liên đã giải thể từ lâu. Nhưng tôi, đứa bé mười tuổi ấy, vẫn ngày ngày ôm quyển sổ ra tận bờ đê, khắc khoải ngóng chờ anh Thắng. Anh đã hứa rồi mà, sao anh vẫn chưa về?
 
Cho đến tận hôm nay, đứa bé ngày nào đã bước sang tuổi sáu mươi. Quyển sổ và tờ đơn thân yêu ấy đã vĩnh viễn mất đi trong một trận lũ lớn. Nhưng nỗi nhớ về anh Thắng, cùng lời hứa sẽ trở về, vẫn vẹn nguyên, tươi mới trong ký ức. Gần năm mươi năm đã trôi qua, đợi mãi mà anh vẫn không về? Tuy nhiên, tôi vẫn tin rằng, anh Thắng vẫn hiện hữu đâu đó, hòa mình vào hồn thiêng sông núi của Tổ quốc!
 
     Đỗ Thành Đồng

Nguồn: Nguồn bài viết