Bài báo là hồi ức về tình yêu trà của tác giả, bắt nguồn từ những buổi thưởng trà giản dị cùng cha và chú D. trong tuổi thơ nghèo khó. Từ việc cùng cha trồng, hái búp chè "một tôm hai lá" trên sườn đồi cằn cỗi đến quá trình học sao chè thủ công đầy tinh tế, tác giả dần nhận ra hương vị trà ngon là sự dung hòa giữa cái đắng và cái ngọt, như chính cuộc đời.
Tuy nhiên, khi người bạn tri kỷ qua đời, cha tác giả dần từ bỏ việc uống trà, khiến truyền thống sao chè của gia đình mai một và vườn chè chuyển sang bán lá tươi. Mặc dù vậy, tác giả vẫn kiên trì học hỏi và tự mình sao trà, coi đó là cách để giữ gìn những giá trị tinh túy và tưởng nhớ người cha đã khuất, người đã gieo mầm tình yêu trà trong lòng cô.
(QBĐT) – Từ thuở ấu thơ, tôi đã bén duyên với trà. Đó là bởi tuổi thơ tôi luôn chất chứa sự tò mò và niềm háo hức đối với vạn vật xung quanh. Những năm tháng ấy, điện năng bấp bênh, phương tiện sinh hoạt còn nhiều thiếu thốn. Trong những mùa hè oi ả, cả gia đình chỉ sở hữu độc chiếc quạt nhựa Liên Xô mà thân phụ tôi mang về từ Hà Nội.
Chiếc quạt ấy, với phần đầu nặng trĩu và đế nhẹ tênh, thường nghiêng ngả mỗi khi vận hành. Những đêm hè, thân phụ tôi dựng chiếc chõng tre ra sân, dưới ánh trăng mờ ảo, mời chú D. sang cùng thưởng trà. Một ấm trà sứt mẻ, một chiếc phích sắt đã hoen gỉ đựng nước giếng khơi đun bằng bếp củi, thoảng mùi khói thân thuộc. Thân phụ tôi hút thuốc Mai, chú D. dùng thuốc Đà Lạt, họ thủ thỉ tâm tình, gật gù đến tận khuya. Hai bóng hình khắc khổ, quây quần dưới vầng trăng huyền ảo, in đậm trên nền đêm, đã trở thành ký ức vô cùng thân thương, khó phai trong tâm khảm tôi.
Thuở ấy, tôi thường khẽ khàng tiến đến bên cạnh, nhẹ nhàng nâng niu chiếc chén trà mộc mạc của thân phụ lên thử. Cảm giác đầu tiên là vị chát đắng, nhưng rồi vị ngọt hậu lại lan tỏa dần từ đầu lưỡi đến vòm họng, đặc biệt khi tráng miệng bằng một ngụm nước lọc, hậu vị càng thêm ngọt ngào. Sau này, khi đã trở thành thiếu nữ, tôi biết thưởng thức trà một cách trang trọng và tinh tế, ngộ ra một chân lý giản đơn: hương vị trà ngon là sự dung hòa tinh tế giữa cái đắng và cái ngọt. Tựa như cuộc đời mà ta đang miệt mài trải nghiệm, chỉ khi vượt qua gian khó và cay đắng, ta mới có thể gặt hái được những thành quả ngọt lành.
Gia đình tôi an cư tại sườn đồi. Thổ nhưỡng vườn nhà chủ yếu là sỏi đá, để gieo trồng cây gì, cần phải dùng choòng đục sâu xuống mới có thể làm tơi đất. Tuy nhiên, nơi đây lại đặc biệt thích hợp với cây chè. Thân phụ tôi đã trồng được hai dãy, chúng vươn mình xanh tốt một cách diệu kỳ giữa vùng đất cằn cỗi. Mỗi năm, cây chè trổ nhiều đợt búp, hồn nhiên bung ra hàng trăm đọt non mơn mởn. Tôi cùng thân phụ đi hái búp chè. Khi sương sớm còn đọng trên từng phiến lá, hàng ngàn búp nõn non tơ tua tủa vươn mình trên đầu cành. Thân phụ tôi hướng dẫn: “Con chỉ cần hái búp kèm hai lá, tính từ gốc lên, hay còn gọi là “một tôm hai lá” theo cách của người làm trà.”
Tôi, vì sợ thân phụ hái hết, nên vội vàng ngắt hái. Bởi lẽ, cảm giác khi dùng móng tay bấm vào cọng chè non mơn mởn thật đặc biệt, tựa như tôi đang thu gom về mình những tinh túy ngọt ngào, thanh mát của đất trời. Thân phụ tôi thường giảng giải rằng, cây cối cũng như con người, nếu phù hợp thổ nhưỡng sẽ phát triển nhanh chóng, sức sống của nó biểu hiện rõ ràng qua hình thái bên ngoài. Lá dày, xanh tươi, búp mỡ màng, không xoăn tít là biểu hiện của cây khỏe, cho ra trà ngon thượng hạng. Đặc biệt, chè trồng trên đất này, khi vò lá già và hãm nước, sẽ cho ra thứ nước xanh ngắt, đậm đà hương vị khó quên.
Thường lệ, sau khi thu hái, chè cần được sao ngay để đạt được hương vị ưng ý. Thuở ấy, hầu như mọi gia đình đều sử dụng bếp củi. Và việc sao chè trên bếp củi mới thực sự tạo nên hương vị truyền thống, tinh túy.
Minh họa: Minh Quý
Dường như chính hương lửa nồng đượm cùng mùi khói bếp thân thuộc càng góp phần kiến tạo nên hương vị đặc trưng, khó quên cho những mẻ chè được sao thủ công thuở ấy. Từ công đoạn làm héo chè đến công đoạn sao khô đều phải đảo thủ công bằng tay. Khi chảo đạt đến độ nóng thích hợp, thân phụ tôi thả chè vào, nhanh tay đảo đều, tạo nên âm thanh xèo xèo đầy mê hoặc.
Tôi đặc biệt yêu thích công đoạn này, không hiểu sao tôi lại hình dung thân phụ đang xào rau, những “cọng rau” mọng nước đang dần héo đi dưới sức nóng của chảo. Sau đó, thân phụ đổ chè ra một chiếc mâm nhỏ, vò những nõn chè nóng hổi trong đôi bàn tay sần sùi, rắn rỏi. Đôi bàn tay ấy, cùng đôi tay của mẫu thân, đã nâng đỡ chị em chúng tôi từ thuở lọt lòng cho đến khi ông quy cố hương. Đôi tay tận tụy. Đôi tay chân chất. Đôi bàn tay ấy, cùng đức tính khiêm nhường, đã giúp ông vượt qua bao giông bão cuộc đời một cách nhẹ nhàng và thanh thản nhất.
Công đoạn cuối cùng đòi hỏi nhiều thời gian và sự tinh tế, đó là sao cho những cọng chè đã được vò mềm trở nên thật khô. Lúc này, cần giữ than vừa phải. Nếu lửa quá nóng, chè sẽ cháy khét; nếu quá nguội, chè sẽ bị ôi. Đời người cũng như công đoạn sao chè, có những điều ta muốn vội vã cũng chẳng thể vội vàng, tựa như chúng ta phải tuần tự đi qua từng khúc đoạn sinh, lão, bệnh, tử, dẫu trải nghiệm đau đớn hay ngọt ngào. Bởi vậy, cần phải giữ lửa vừa phải, nhẹ nhàng khỏa đảo, và kiên nhẫn đợi chờ mới có thể cho ra một mẻ chè ngon đích thực.
Để rồi, chỉ cần tráng qua một lượt nước đã cảm nhận được hương trà thanh mát, tự nhiên lan tỏa, như thể vừa bước qua một lùm cây trà đang độ trổ hoa. Nhắc đến hoa trà, đó là một loài hoa cánh trắng nhụy vàng, tỏa hương trà đặc trưng khó lẫn, mộc mạc tựa những thiếu nữ thôn quê vừa lớn, ngây thơ đón ong bướm về hút mật.
Thấm thoát thoi đưa, vườn chè gia đình tôi ngày càng xanh tốt. Lượng búp chè thu hoạch ngày càng tăng, thời gian thân phụ tôi sao chè cũng kéo dài hơn. Tôi vẫn giữ trọn vẹn niềm vui thích mỗi lần cùng thân phụ thu hái búp chè. Càng về sau này, việc hái chè thân phụ tôi chuyển giao hoàn toàn cho chị em chúng tôi. Đi làm về, tranh thủ khi bếp lửa còn đượm, thân phụ tôi mải miết sao chè, quên cả bữa trưa.
Có những mùa xuân, búp chè rộ lên như một rừng chông mềm mại, mang sắc xanh cốm non tơ, mướt mát tựa đôi má thiếu nữ xuân thì. Chị em chúng tôi cẩn trọng ngắt từng búp nõn non tơ. Thân phụ tôi dặn: “Nay búp nhiều, các con chỉ cần hái một đinh một lá thôi.” Đứng giữa hàng chè, ngỡ như đã nghe thấy hương trà thoang thoảng. Chao ôi! Mùa xuân! Mùa của chồi non lộc biếc! Mùa khơi gợi tâm hồn con người sự thơ thới, yêu đời.
Thế nhưng, đến cả việc thưởng trà, thân phụ tôi cũng dần xao nhãng. Chú D. chuyển đi nơi khác, hai người bạn thỉnh thoảng mới ghé thăm nhau, vội vã rồi lại rời đi. Ngay cả những cuộc thăm viếng cũng chấm dứt khi chú D. mắc bệnh hiểm nghèo và tạ thế. Thân phụ tôi mất đi một tri kỷ tâm giao, một bạn trà thủ thỉ mỗi tối. Ông giảm dần rồi gần như từ bỏ hoàn toàn việc uống trà. Mỗi lứa búp trổ ra, không ai thu hái lại dần già đi, mẫu thân tôi đành cắt chè xanh bán cho những người buôn lẻ ở chợ. Tôi nhìn hàng chè còn đẫm sương đêm, từng chiếc lá già xanh thẫm, dày và cong mình dưới ánh nắng mai dìu dịu, rồi hỏi thân phụ:
– Thưa thân phụ, vì sao người không còn thưởng trà nữa? Búp chè vẫn trổ mỗi ngày mà?
– Con cứ thu hái đi, thân phụ sẽ chỉ dạy con cách sao rồi đem bán. Uống trà vào, thân phụ dễ bị mất ngủ con ạ!
Tôi nhìn vào đôi mắt sâu thẳm của thân phụ, đôi mắt mà tôi được thừa hưởng trọn vẹn, ngộ ra rằng, dẫu cho những thói quen có tốt đẹp đến đâu, nhưng khi không còn phù hợp, ta vẫn cần phải buông bỏ.
Các chị tôi lần lượt trưởng thành và lập nghiệp phương xa. Chỉ mình tôi thu hái trà, mình tôi miệt mài quan sát thân phụ hướng dẫn rồi rụt rè tập tành làm theo. Những mẻ đầu tiên, khi thân phụ thưởng thức ngụm trà do con gái tự tay sao, không cần suy ngẫm lâu, ông đã nhận xét: “Nước trà bị đỏ, hương trà không thanh thoát, con đã dùng lửa yếu nên trà hơi uổi.” Mẻ ấy, tôi cố gắng uống hết, uống để tự nhủ mình rằng mẻ sau cần nỗ lực hơn. Cuộc sống này, ngay cả việc quét nhà, rửa bát cũng cần học hỏi vài lần mới có thể khéo léo, huống chi việc sao trà đòi hỏi sự kỳ công. Mất vài lần thất bại, tôi tiến bộ hơn thật, bởi từ chỗ tiếp thu lý thuyết đến áp dụng vào thực hành thuần thục là một quá trình không hề dễ dàng.
Rồi tôi cũng vỗ cánh bay xa, những búp chè chỉ còn chấp chới trong miền ký ức bồng bột. Hàng chè cứ thế non nõn, rồi xanh tươi, rồi dần già cỗi. Nay thân phụ tôi đã về miền mây trắng từ lâu, hàng chè, ơn trời, vẫn còn nguyên đó, mỗi năm có vài đợt thương lái đến thu mua chè xanh tận vườn, họ cắt ngang thân để đợi chè cho lứa mới. Những thân cây đã già đi rất nhiều sau ngần ấy thời gian tận hiến. Có thể, nhiều năm, nhiều năm sau nữa, vật đổi sao dời, hàng chè thương nhớ sẽ đi vào dĩ vãng, và đó cũng là khúc đoạn chúng cần phải đi qua.
Thỉnh thoảng, tôi vẫn mua vài lạng trà ngon, pha bằng bộ ấm chén gốm Bát Tràng tinh xảo, dùng nước giếng khoan đun sôi bằng ấm siêu tốc. Dẫu thiếu đi hương khói bếp thân thuộc, nhưng đó là một cách tôi tưởng nhớ người thân phụ kính yêu của mình!