Bài báo là dòng hồi ức sâu sắc của tác giả về chiếc cầu nhỏ ở làng quê Quảng Bình thuở ấu thơ, một ký ức không thể phai mờ bất chấp dòng đời. Chiếc cầu không chỉ là ranh giới tự nhiên giữa các đội sản xuất mà còn là nơi hò hẹn của lũ trẻ, trạm dừng chân quen thuộc, và là chứng nhân cho những câu chuyện, tiếng hát, tiếng đàn mandolin của cậu Thuyết cùng những mộng mơ thơ bé. Đây cũng là nơi tác giả có mối tình đầu trong sáng với chàng kỹ sư thổi sáo Anh Quân, người đã cùng cô trải qua những đêm trăng đẹp đẽ bên cầu. Dù sau này tác giả rời làng lên thành phố và khi trở về, chiếc cầu gỗ xưa đã được thay thế bằng cầu bê tông kiên cố cùng nhiều đổi thay trong làng xóm. Tuy vậy, những ký ức ngọt ngào về chiếc cầu, con người và khung cảnh làng quê thanh bình ấy vẫn vẹn nguyên, sống mãi trong tâm hồn tác giả.
(QBĐT) – Mặc dù hành trình cuộc đời đã đưa tôi qua vô vàn cây cầu, nhưng ký ức về chiếc cầu nhỏ của thuở ấu thơ vẫn in đậm, bất di bất dịch. Đôi khi, nó hiện về trong giấc mộng như một lời thì thầm gọi mời, cùng làn nước thăm thẳm xanh biếc rêu phong, nơi đàn cá bống lượn vòng, tụ rồi tản, và những bông bèo dập dờn còn vương hạt mưa đêm.
...”Chiếc cầu là nơi hò hẹn của đôi ta
Đêm trăng sáng chân cầu em giặt áo..”
Từ thuở bé thơ, giai điệu ấy đã thuộc nằm lòng và theo tôi ngân nga. Cho đến nay, khung cảnh nên thơ ấy vẫn vẹn nguyên trong tâm trí tôi.
Làng tôi an yên nép mình dưới chân đồi Trọ, một vùng quê tĩnh lặng điển hình của Quảng Bình. Thời kỳ các đội sản xuất phân chia thôn xóm, cây cầu nhỏ ấy chính là ranh giới tự nhiên giữa đội ba và đội bốn. Thuở ban sơ, mẹ tôi được ông bà nội ở đội ba dựng cho một chòi tranh đơn sơ, đủ kê hai chiếc giường, một bếp nhỏ, và ô cửa sổ đắp bằng rơm trộn đất. Để tôi có “góc học tập”, mẹ dùng hai thùng đạn làm bàn.
Cha tôi, một người lính ngược xuôi Bắc Nam, đã để lại trong tôi hình ảnh chiếc túi cứu thương và mơ ước được trở thành cô y tá làng, tiêm thuốc giúp bà con. Sau này, ngoại tôi cho mảnh đất sào trên triền dốc dưới chân đồi Trọ. Thế là mẹ con tôi dìu dắt nhau sang đội bốn. Cây cầu trở thành điểm hẹn thân thuộc của lũ trẻ, là trạm dừng chân quen thuộc cho các o, các mợ gánh gồng chợ búa hay quẩy phân tro ra đồng. Dù chỉ là hai tấm ván gỗ dày bắc qua con mương rộng chừng ba mét, trên con đường rợp bóng tre xanh, nhưng hiếm ai đi qua mà không dừng chân ngắm cảnh.
Cậu Thuyết, y sĩ của xã, là bà con bên ngoại của tôi:
– Mẹ các cháu ngày xưa xinh đẹp lắm, lại còn có giọng hát hay nổi tiếng một thời con gái đấy.
Cậu thường kể vậy mỗi khi chúng tôi nài nỉ được nghe cậu đàn.
– Ngày xưa làng mình đây chỉ vài mươi nóc nhà thưa thớt ẩn mình dưới thung lũng khe Nậy và Ma Ca… Dưới ruộng cá bơi thành đàn, trên rừng chim muông, hươu nai nhiều vô kể, chỉ cần đặt bẫy là có thịt. Mẹ các cháu ngày nào cũng vắt mật ong rừng do ông ngoại lấy về. Có lần, vì mê mẩn vị kén ong béo ngọt đến độ lấy mật xong nằm bên bìa sông mà quên cả lối về…
Cậu vừa kể chuyện xưa, tay vừa lướt trên phím mandolin như làm ảo thuật. Lũ trẻ chúng tôi như chìm vào cõi mơ, mê mẩn trong thứ âm thanh diệu vợi và những câu chuyện dù đã nghe hàng chục lần vẫn hấp dẫn như thuở ban đầu. Chiếc cầu nhỏ ấy là chứng nhân của những cuộc vui… Dưới ánh trăng huyền ảo, bên bờ tre xào xạc, mùi khói thoảng đưa trong làn gió đồng quê hòa cùng tiếng ễnh ương ộp oạp…
Tôi không tài nào tái hiện trọn vẹn không khí thơ ngây, đầy màu sắc cổ tích trong trí tưởng tượng của mình. Những gợn nước lăn tăn dưới ánh trăng, lũ trẻ tụ tập lắng nghe chuyện và tập hát. Đôi khi, khi cha mẹ gọi về đi ngủ, vài cặp thanh niên lại tìm đến chiếc cầu làm nơi hò hẹn…
Thuở ấy, trong làng chỉ có tôi và hai cậu con trai có bà con xa cùng theo học trường huyện. Hàng chục lần, tôi co ro trong chiếc áo mưa tại quán tranh chợ Hôm Trạm cạnh bờ sông Kiến Giang buốt lạnh, mòn mỏi chờ chuyến đò sớm mai, và ao ước biết bao giá như có một cây cầu!
Tiếng sáo vút lên từ phía cánh đồng, vương vấn trong làn gió đêm tháng giêng còn thoang thoảng dư vị Tết. Dưới ánh trăng vằng vặc soi rõ nương chè qua ô cửa sổ nhỏ, tôi nghe như có tiếng gọi từ xa xăm, thôi thúc tôi đi, phải đi đến những miền đất tôi từng mơ ước, từng bắt gặp qua những trang sách ố vàng… Tôi khát khao được cất lên tiếng hát bằng giọng cao vút của gió đêm trăng bên bìa rừng.
Trong mơ, tôi thấy những con dốc sỏi dẫn đến ngôi trường đẹp, những cây tùng trầm mặc giữa đêm sao, và một chiếc cầu cong cong… Trong trí tưởng tượng của một cô gái thôn quê, bầu trời mơ ước ấy đan xen bao hình ảnh đẹp tựa cổ tích. Những đêm xuân xa xôi ấy, chiếc cầu nhỏ chính là nơi lũ trẻ chúng tôi háo hức ngồi lại, gửi gắm những mộng mơ.
Nghe nói có đoàn công nhân xây dựng về làng để chuẩn bị tái thiết nhà ga và cầu tàu hỏa. Dì tôi nháy mắt đầy ẩn ý: “Có anh kỹ sư trẻ giọng Hà Nội thổi sáo hay quá chừng.”
Tôi đã gặp chàng thư sinh ấy sau những cú nhảy khéo léo vượt qua từng thanh ray một để về nhà nhanh chóng. Hôm ấy, mưa xuân lất phất bay, một nhóm người đang đo đạc ghi chép bên chiếc cầu vào ga. Tôi chăm chú bước, sợ trượt chân vì lớp dầu trên tà vẹt trơn lạ kỳ. Ngẩng đầu lên, tôi bắt gặp một ánh mắt chăm chú, hơi có vẻ trêu đùa:
– Cẩn thận kẻo ngã đấy cô bé, cầu chúng tôi đã đo xong rồi, không cần đo lại đâu nhé.
Ánh mắt và giọng nói của anh thật lôi cuốn. Anh hỏi nhà tôi có gần cầu không, tôi học lớp mấy, rồi rủ tối ra cầu chơi nghe anh thổi sáo. Chẳng hiểu sao, chân tôi như muốn ríu lại, mặt đỏ bừng. Dì nghe chuyện ấy chỉ cười hiền, bẹo mũi tôi. Tôi nằng nặc bắt dì thề không bao giờ kể với mẹ, vì cảm thấy xấu hổ vô cùng. Khi ấy tôi vừa tròn mười sáu tuổi. Dì hơn tôi hai tuổi, nhưng rất được lòng mẹ. Thế là mỗi cuối tuần, sau buổi học trường huyện, chúng tôi thích thú rủ nhau ra cầu.
Rằm tháng giêng năm ấy, trăng sáng vằng vặc. Gia đình chúng tôi mời cậu Thuyết, anh Quân và vài người bạn đến thưởng thức chè đậu đỏ. Sườn đồi bạc trắng dưới ánh trăng, tiếng sáo vút lên cao, làn nước dưới cây cầu gợn sóng lăn tăn. Và chúng tôi đã cùng nhau trải qua một mùa trăng ca hát, hòa mình vào tiếng sáo của anh Quân và nhịp mandolin của cậu Thuyết, bên chiếc cầu nối liền đội ba và đội bốn.
Qua mùa thu năm đó, tôi rời làng lên thành phố. Tôi sống giữa lòng thành phố di sản với những cây cầu bắc qua dòng sông đẹp như trăng tuổi thơ. Tôi yêu màu xám bạc dưới sương mù mùa đông của những mái vòm, những nhịp cầu mang đường nét kiến trúc châu Âu quý phái, sang trọng… nhưng sâu thẳm trong lòng, nỗi nhớ về nơi chốn xưa cũ chưa bao giờ nguôi.
Khi tiếng còi tàu u u vọng lại, mùi hăng hắc của toa xe quyện trong làn sương chiều xanh nhạt, và từng nhịp rần rật qua cây cầu đường sắt vào ga Thượng Lâm, tôi thấy mình đã thực sự về nhà.
Ga xép hiện ra sau khúc quanh cây lá. Ngọn đồi cỏ lau xưa giờ đã mọc lên những khu nhà mới và một ngôi chợ hàng quán lều bạt xênh xang. Mắt tôi cay xè khi nghe tin cậu Thuyết đã qua đời. Những chàng trai trẻ từng xây dựng cầu nhà ga cũng đã rời đi từ rất lâu rồi. Mặt trời rọi ánh nắng chan hòa lên ngôi làng và những ngọn đồi. Tôi ngồi dưới hàng cây xanh mát. Đội ba, đội bốn giờ đã nối liền bằng cây cầu bê tông kiên cố và con đường nhựa phẳng lì. Tất cả đã đổi thay, chỉ riêng lòng người vẫn nâng niu mãi những dấu vết yêu thương xưa cũ…
Hương đêm gió đưa qua những ô cửa mở. Tôi nghe tiếng sáo và tiếng đàn mandolin từ phía cây cầu gỗ xa xưa, vượt qua những đường ray phủ đầy cỏ hoang chạy dọc ngôi làng, hòa tan vào ánh trăng huyền hoặc.
Trần Bạch Diệp
Nguồn: Nguồn bài viết