(*) – Tại kỳ họp thứ 6 Quốc hội khóa XIV đã ban hành Nghị quyết số 74/2018/QH14 ngày 19/7/2018, trong đó Quốc hội đã giao cho Chính phủ xây dựng Đề án tổng thể đầu tư phát triển kinh tế – xã hội vùng dân tộc thiểu số và miền núi, vùng có điều kiện đặc biệt khó khăn, trình Quốc hội xem xét, quyết định tại kỳ họp thứ 8 Quốc hội khóa XIV (tháng 10/2019) để triển khai thực hiện từ năm 2021.Theo đó, Ủy ban Dân tộc được Chính phủ giao chủ trì triển khai xây dựng Đề án.
Sau thời gian rất khẩn trương, nghiêm túc, triển khai đồng bộ các hoạt động như tổ chức các hội nghị, hội thảo tham vấn ý kiến các bộ, ngành liên quan, khảo sát thực tế tại các địa phương…, Ủy ban Dân tộc đã xây dựng Dự thảo Đề án có nhiều số liệu, tư liệu để chứng minh đánh giá, nhận định, làm cơ sở cho việc hoạch định, đề ra các mục tiêu, chỉ tiêu, giải pháp của Đề án một cách khoa học, khách quan.

Hội thảo góp ý cho Đề án tổng thể đầu tư phát triển kinh tế – xã hội vùng dân tộc thiểu số và miền núi các tỉnh Đông Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ
Tại phiên họp Chính phủ thường kỳ tháng 7/2019 diễn ra ngày 01/8/2019 do Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc chủ trì đã góp ý và thông qua nội dung Dự thảo Đề án tổng thể đầu tư phát triển kinh tế – xã hội vùng dân tộc thiểu số và miền núi, Bộ trưởng, Chủ nhiệm Ủy ban Dân tộc Đỗ Văn Chiến trình bày Dự thảo Đề án. Chính phủ đồng tình, thống nhất thông qua các nội dung trong dự thảo Đề án và xác định đây là 1 trong 3 Chương trình mục tiêu Quốc gia trong thời gian tới. Thủ tướng ủy quyền cho Bộ trưởng, Chủ nhiệm Ủy ban Dân tộc hoàn thiện hồ sơ Đề án và Dự thảo Nghị quyết của Quốc hội để xin ý kiến Thủ tướng Chính phủ theo quy định trước khi ký trình Quốc hội.
Ngày 18/9/2019, Ủy ban Thường vụ Quốc hội cho ý kiến về Dự thảo Nghị quyết của Quốc hội phê duyệt Đề án tổng thể đầu tư phát triển kinh tế – xã hội vùng dân tộc thiểu số, miền núi. Trên cơ sở báo cáo của cơ quan chủ trì thẩm tra và ý kiến của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Thường trực Hội đồng Dân tộc kiến nghị, Chính phủ tiếp thu, chỉnh sửa, hoàn thiện Đề án, kèm theo Dự thảo Nghị quyết của Quốc hội về Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế – xã hội vùng dân tộc thiểu số, miền núi, trình tại Kỳ họp thứ 8 trong tháng 10/2019.
Cụ thể, Đề án thực hiện ở địa bàn các xã vùng dân tộc thiểu số, miền núi, vùng kinh tế – xã hội đặc biệt khó khăn (bao gồm các xã đặc biệt khó khăn vùng bãi ngang ven biển và hải đảo, xã biên giới). Đối tượng điều chỉnh của Đề án là thôn, bản, buôn, làng, ấp… (sau đây gọi chung là thôn, bản); xã, huyện, tỉnh thuộc vùng dân tộc thiểu số, miền núi và vùng kinh tế – xã hội đặc biệt khó khăn; hộ gia đình, cá nhân người dân tộc thiểu số; hộ gia đình, cá nhân người dân tộc Kinh thuộc diện hộ nghèo, cận nghèo sinh sống ở vùng dân tộc thiểu số, miền núi và vùng kinh tế – xã hội đặc biệt khó khăn. Thời gian thực hiện Đề án trong giai đoạn 2021 – 2030.
Đề án nhằm khai thác tiềm năng, lợi thế so sánh của vùng, đổi mới, sáng tạo, đẩy mạnh phát triển kinh tế, đảm bảo an sinh xã hội; giảm nghèo nhanh, bền vững, giảm khoảng cách về mức thu nhập so với vùng phát triển; thu hẹp dần địa bàn đặc biệt khó khăn, cải thiện rõ rệt đời sống của Nhân dân, gia tăng đầu tư nguồn lực của Nhà nước và các thành phần kinh tế để xây dựng hệ thống kết cấu hạ tầng kinh tế – xã hội đồng bộ, liên vùng kết nối với các vùng phát triển; đẩy mạnh phát triển giáo dục, đào tạo, y tế, văn hóa nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức, người lao động là người dân tộc thiểu số, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực; xóa bỏ phong tục tập quán lạc hậu đi đôi với giữ gìn, phát huy bản sắc văn hóa tốt đẹp của các dân tộc; chú trọng xây dựng hệ thống chính trị ở cơ sở vững mạnh, giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, giữ vững chủ quyền lãnh thổ, an ninh biên giới Quốc gia; củng cố tăng cường khối đại đoàn kết các dân tộc, vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.
Theo đó, đến năm 2020, Đề án phấn đấu tăng thu nhập bình quân người dân tộc thiểu số tăng ít nhất 2 lần so với 2020, tỷ lệ giảm nghèo hàng năm giảm 3 – 5%; giảm 30% số xã đặc biệt khó khăn; 50% số thôn đặc biệt khó khăn so với hiện nay; quy hoạch và bố trí sắp xếp ổn định 50% số hộ di cư tự phát; sắp xếp ổn định số hộ cư trú phân tán trong các khu rừng phòng hộ, đặc dụng, khu vực có nguy cơ lũ ống, lũ quét, có nguy cơ sạt lở đất…; trên 80% lao động từ 18 tuổi trở lên có việc làm với thu nhập ổn định; giải quyết đất sản xuất, chuyển đổi nghề cho trên 80% số hộ đồng bào dân tộc thiểu số nghèo, hộ nghèo vùng đòng bào DTTS&MN thiếu đất sản xuất; trên 95% hộ gia đình có phương tiện nghe, nhìn; trên 75% hộ gia đình được sử dụng nước hợp vệ sinh. Ngoài ra, phấn đấu trên 80% đường ở thôn, bản được bê tông hóa, cứng hóa theo cấp kỹ thuật của Bộ Giao thông vận tải; 100% xã có trường mầm non, tiểu học, trung học cơ sở; trung tâm cụm xã có trường trung học phổ thông đáp ứng nhu cầu học tập và phổ biến kiến thức cho người dân; 80% xã có cơ sở vật chất trường học đạt chuẩn nông thôn mới; trên 70% xã đạt tiêu chí Quốc gia về y tế; trên 90% trạm y tế xã có bác sỹ, đủ điều kiện khám bệnh, chữa bệnh bảo hiểm y tế; trên 90% phụ nữ được khám thai định kỳ, sinh con tại cơ sở y tế, đảm bảo tỷ lệ trẻ em suy dinh dưỡng dưới 10%; trên 90% cán bộ, công chức xã có trình độ trung cấp chuyên nghiệp trở lên, trong đó trên 60% có trình độ đại học và trung cấp lý luận chính trị trở lên; trên 90% được bồi dưỡng kiến thức dân tộc theo Khung đối tượng. Xây dựng hệ thống cơ sở chính trị vững mạnh.
Mục tiêu đến năm 2030 không còn hộ đói; hộ nghèo nghèo giảm 80% so với năm 2020; 80% hộ gia đình có mức sống bằng mức sống dân cư trong khu vực; giảm ít nhất 70 số thôn đặc biệt khó khăn; 80% số xã đặc biệt khó khăn so với năm 2020; trên 85% xã vùng dân tộc thiểu số và miền núi có cơ sở hạ tầng (đường, điện, trường học, trạm y tế…) đáp ứng được yêu cầu phát triển kinh tế – xã hội và đời sống người dân; cơ bản hoàn thành 17 chỉ tiêu đề ra trong mục tiêu phát triển bền vững giai đoạn 2015 – 2030 quy định tại Quyết định 622/QĐ-TTG ngày 10/5/2017 của Thủ tường Chính phủ.
Đề án xây dựng 09 Dự án với 23 tiểu dự án thành phần để thực hiện gồm: Dự án 1 tạo sinh kế, việc làm và nâng cao thu nhập cho người dân; Dự án 2 quy hoạch, sắp xếp ổn định dân cư, hỗ trợ đời sống và phát triển sản xuất; Dự án 3 đầu tư cơ sở hạ tầng phục vụ sản xuất, kinh doanh; Dự án 4 phát triển nguồn nhân lực và đội ngủ cán bộ người dân tộc thiểu số; dự án 5 về ứng dụng công nghệ thông tin hỗ trợ phát triển kinh tế – xã hội và đảm bảo an ninh trật tự; dự án 6 đầu tư nâng cao năng lực các đơn vị sự nghiệp công lập thuộc lĩnh vực dân tộc; dự án 7 phát triển bền vững dân tộc thiểu số rất ít người và một số dân tộc thiểu số có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn; dự án 8 về công tác phổ biến, giáo dục phát luật và tuyên truyền vận động vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi; dự án 9 dự án đặc thù đảm bảo an sinh xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi.
Ủy ban Dân tộc là cơ quan thường trực của Đề án, có trách nhiệm chủ trì, phối hợp với các Bộ, ngành liên quan tham mưu cho Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ để tổ chức thực hiện các nhiệm vụ của Đề án; chủ trì, phối hợp với các Bộ, ngành liên quan tham mưu, đề xuất với Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ về các nhiệm vụ, giải pháp, bộ máy để tổ chức thực hiện. Ở địa phương, UBND các tỉnh vùng đồng bào dân tộc thiểu số xây dựng kế hoạch và tổ chức triển khai, thực hiện các nhiệm vụ của Đề án; bố trí nguồn lực, biên chế, kinh phí, cơ sở vật chất cho việc thực hiện Đề án; chỉ đạo, hướng dẫn việc thực hiện Đề án trong phạm vi địa phương mình.
Việc xây dựng Đề án tổng thể đầu tư phát triển kinh tế – xã hội vùng dân tộc thiểu số, miền núi, vùng kinh tế – xã hội đặc biệt khó khăn là cần thiết. Tổ chức thực hiện hiệu quả Đề án sẽ cơ bản giải quyết được những tồn tại, hạn chế, bất cập trong công tác dân tộc và thực hiện chính sách dân tộc hiện nay cũng như đáp ứng mong đợi của đồng bào dân tộc thiểu số. Đề án được phê duyệt và tổ chức thực hiện có kết quả sẽ góp phần thúc đẩy kinh tế – xã hội vùng dân tộc thiểu số, miền núi, vùng kinh tế – xã hội đặc biệt khó khăn phát triển nhanh, bền vững; tạo sinh kế, tăng thu nhập cho người dân, góp phần giảm nghèo nhanh, bền vững; giải quyết một số bức xúc của người dân tộc thiểu số sinh sống ở vùng kinh tế – xã hội đặc biệt khó khăn; đồng thời đạt được đa mục tiêu về kinh tế – xã hội, quốc phòng – an ninh, xây dựng Đảng và hệ thống chính trị vững mạnh, củng cố tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc và nâng cao niềm tin của đồng bào các dân tộc thiểu số đối với Đảng, Nhà nước.
Phan Công Khánh (Ban Dân tộc)
Nguồn: Cổng TTĐT tỉnh Quảng Bình




