Bỏ qua, tới nội dung chính
DANH NHÂN

Khám phá Đền Song Trung: Nơi lưu giữ mộ hai tướng quân, giá trị lịch sử và tâm linh!

Tin Tức Quảng BìnhĐăng: 0 lượt xem

Ngày 09/09/2025, Di tích lịch sử Đền Song Trung cùng lăng mộ danh tướng Hoàng Vĩnh Tộ và Hoàng Vĩnh Dụ (tọa lạc tại xã Tân Gianh, Quảng Trị) đã được công nhận là Di tích Quốc gia, khẳng định giá trị lịch sử, văn hóa đặc sắc gắn liền với truyền thống dân tộc. Hoàng Vĩnh Tộ và con trai Hoàng Vĩnh Dụ là hai danh tướng kiệt xuất thời Lê Trung Hưng, đã cống hiến trọn đời phò vua, giúp nước, lập nhiều chiến công hiển hách trong cuộc chiến chống nhà Mạc và giặc ngoại xâm. Đền Song Trung được Nhân dân xây dựng từ khoảng năm 1650 để tưởng nhớ công lao của hai cha con, trong đó tấm văn bia Đền Song Trung (lập năm 1756) được đánh giá là một bảo vật quốc gia vô giá, ghi chép chi tiết về thân thế, sự nghiệp và truyền thống của họ. Việc công nhận di tích này không chỉ bồi đắp niềm tự hào dân tộc mà còn góp phần quan trọng vào công tác giáo dục, phát huy những giá trị truyền thống tốt đẹp cho các thế hệ.

QTO – Vào ngày 09/09/2025, Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đã ban hành Quyết định công nhận Di tích lịch sử Đền Song Trung cùng lăng mộ Hoàng Vĩnh Tộ và Hoàng Vĩnh Dụ (tọa lạc tại xã Tân Gianh, tỉnh Quảng Trị) là Di tích Quốc gia. Sự công nhận này khẳng định giá trị lịch sử, văn hóa đặc sắc, gắn bó mật thiết với truyền thống dựng nước và giữ nước vĩ đại của dân tộc.

Danh tướng Hoàng Vĩnh Tộ và Hoàng Vĩnh Dụ: Thân thế và sự nghiệp

Trong dòng chảy cuồn cuộn của lịch sử, vùng đất Phù Kinh cổ xưa được kiến tạo từ các làn sóng di dân quy mô lớn từ miền Bắc trong các triều đại Lý, Trần, Lê và giai đoạn đầu của chúa Nguyễn. Theo ghi chép trong gia phả, dòng họ Hoàng Phù Kinh đã định cư tại đây từ triều Lý (thế kỷ XI), với nguyên quán là xã Lý Trai, huyện Phúc Khê, tỉnh Nghệ An, sau đó di cư và lập ấp tại xã Phù Kinh, châu Bố Chính, phủ Tân Bình theo chính sách chiêu mộ dân cư.

Sử liệu ghi nhận, vào cuối thế kỷ XV, đầu thế kỷ XVI, khi triều Lê lâm vào cảnh suy vong, Mạc Đăng Dung đã lợi dụng thời cơ để tiếm ngôi, lập nên vương triều nhà Mạc. Bấy giờ, đất nước đứng trước họa ngoại xâm từ phương Bắc, đồng thời nội bộ triều đình chìm trong loạn lạc bởi các cuộc tranh giành quyền lực giữa các phe phái phong kiến, đẩy đời sống của Nhân dân vào cảnh lầm than, khốn cùng.

Đến năm 1540, trước áp lực đe dọa từ nhà Minh (Trung Quốc), Mạc Đăng Dung đã có hành động gây phẫn nộ là dâng nộp 6 động thuộc vùng Vĩnh An (nay thuộc tỉnh Quảng Ninh) để cầu hòa. Hành động này không chỉ xúc phạm nghiêm trọng tinh thần độc lập và danh dự quốc gia, mà còn khơi dậy lòng yêu nước mãnh liệt, khiến hào kiệt và Nhân dân khắp nơi đồng lòng quy tụ về ủng hộ triều Lê Trung Hưng.

Lăng mộ hai vị công thần - Ảnh: M.T
Lăng mộ của hai vị công thần – Ảnh: M.T

Chào đời và trưởng thành giữa giai đoạn lịch sử dân tộc đầy biến động, tại vùng đất Phù Kinh (châu Bố Chính, phủ Tân Bình) – vốn là phên dậu kiên cố phía Nam của Đại Việt, danh tướng Hoàng Vĩnh Tộ đã sớm gia nhập đội quân của Nguyễn Kim, tận lực phò Lê diệt Mạc.

Tương truyền, thuở thiếu thời, ông Hoàng Vĩnh Tộ đã nổi tiếng là một cậu bé khôi ngô, tuấn tú và thông minh xuất chúng. Khi trưởng thành, ông trở thành một thanh niên hào kiệt, sở hữu sức khỏe phi thường, chí khí hơn người, cùng với lòng yêu nước và thương dân sâu sắc. Ông đã nhiều lần xông pha trận mạc, lập nên vô số chiến công hiển hách. Ghi nhận những đóng góp to lớn ấy, vào năm Thuận Đức thứ I (1600), ông được vinh phong chức Hiệp mưu dương vũ công thần, Đặc tiến Phụ quốc thượng, Tướng quân cẩm y vệ, thực vệ sự Hầu tước. Sau khi qua đời, ông được truy phong tước hiệu Phúc Khê hầu Đại vương tôn thần (theo ghi chép trên văn bia và gia phả họ Hoàng Phù Kinh).

Nối gót thân phụ Hoàng Vĩnh Tộ, con trai trưởng của ông là Hoàng Vĩnh Dụ cũng từ thuở nhỏ đã bộc lộ khí chất thông minh, lanh lợi, sở hữu sức khỏe phi thường và tinh thông võ thuật. Khi trưởng thành, Hoàng Vĩnh Dụ đã kề vai sát cánh cùng cha tham gia nhiều trận chiến chống giặc, lập nên những công lao hiển hách. Nổi bật nhất là chiến công lừng lẫy tiêu diệt quân ngụy Mạc tại trận địa đầu đất Giao Thủy (Nam Định). Vào năm Vĩnh Tộ thứ 10 (1628) của triều Lê, ông được vinh phong là Dương vũ uy dũng tán trị công thần đặc tiến phụ quốc Thượng tướng quân điện tiền đô hiệu điểm ty Tả hiệu điểm Hầu tước. Sau khi tạ thế, ông được truy phong tước Hoằng dũng Đại vương tôn thần.

Cả hai vị công thần Hoàng Vĩnh Tộ và Hoàng Vĩnh Dụ đã cống hiến trọn đời phò vua, giúp nước, đánh dẹp quân ngụy Mạc, ngăn chặn sự cát cứ chia cắt giang sơn và chống lại giặc ngoại xâm. Với những công trạng hiển hách, cả hai cha con đều được vua Lê phong tước Hầu – một tước vị vô cùng cao quý trong hệ thống phong kiến Việt Nam. Đặc biệt, việc hai cha con cùng được vinh phong Thượng Tướng quân là một điều cực kỳ hiếm hoi, không chỉ trong triều Lê mà còn trong suốt lịch sử các triều đại phong kiến nước ta.

Văn bia Đền Song Trung: Bảo vật quốc gia vô giá

Để tưởng nhớ và tri ân công lao to lớn của hai cha con danh tướng Hoàng Vĩnh Tộ và Hoàng Vĩnh Dụ, vào khoảng năm 1650, Nhân dân đã cùng nhau xây dựng Đền Song Trung thờ phụng hai vị công thần triều Lê. Đến đầu năm Cảnh Hưng thứ 17 (1756), tấm văn bia Đền Song Trung được phụng lập. Trải qua bao thăng trầm, biến cố của lịch sử và sự khắc nghiệt của thời tiết, tấm văn bia vẫn còn tương đối nguyên vẹn, được khắc tinh xảo trên khối đá xanh tự nhiên. Nội dung và các ký tự Hán tự trên bia vẫn còn rõ ràng, đầy đủ, là một trong số ít văn bia có giá trị cao còn sót lại tại vùng Quảng Bình (nay thuộc tỉnh Quảng Trị).

Theo đánh giá của Tiến sĩ Võ Quang Vinh (từ TP. Huế), văn bia Song Trung Miếu bi tại đền thờ Hoàng Vĩnh Tộ và Hoàng Vĩnh Dụ sở hữu những hoa văn trang trí độc đáo và đặc trưng. Nổi bật là hình tượng hổ phù với kiểu thức “Rồng ngậm chữ Thọ…” (rồng ngậm chữ thọ với thân rồng và móng rồng được cách điệu thành mây và dây leo) trên trán bia, tạo cảm giác mềm mại và tinh tế. Các móng rồng được biến tấu thành những đám mây cuộn. Phía dưới là khung tiêu đề “Song Trung miếu bi”. Phần viền ngoài của tấm bia được trang trí bằng hoa văn dây leo kết hợp với họa tiết dích dắc lượn sóng. Tổng thể bia đá được chạm khắc công phu, với chữ Hán chân phương vô cùng mỹ lệ.

Cố Giáo sư Trần Quốc Vượng từng khẳng định: “Tấm văn bia tại Đền Song Trung là một trong những văn bia có niên đại khá sớm ở Quảng Bình và cả khu vực miền Trung. Đây là một văn bia (kèm bài ký) ghi chép chi tiết về lịch sử vùng đất, thân thế, sự nghiệp cùng truyền thống của hai vị Thượng tướng quân lừng danh trong thời Lê Trung Hưng. Đây thực sự là một tác phẩm văn học sử vô giá, một bảo vật quốc gia cần được gìn giữ và bảo vệ nghiêm cẩn…”.

Đền Song Trung - Ảnh: M.T
Đền Song Trung – Ảnh: M.T

Đền Song Trung uy nghi tọa lạc kề bên núi Lèn Rồng, soi bóng xuống dòng sông Gianh lịch sử; đối diện qua sông là dãy núi Lệ Sơn trùng điệp với 99 chóp huyền thoại cùng phản chiếu. Đây quả là một vùng đất sơn thủy hữu tình, nơi địa linh tụ hội nhân kiệt, hiếm có nơi nào sánh bằng. Trong khi đó, khu lăng mộ của hai vị Thượng tướng quân lại nằm trên đỉnh núi Rú Vắp, đón gió bốn phương tám hướng, phía trước là dòng sông Gianh hùng vĩ, phía sau được dòng sông Rào Sau uốn lượn bao bọc, tạo nên một khung cảnh tuyệt mỹ. Với thế sông hình núi linh thiêng, nơi đây hội tụ sinh khí vượng cát, hứa hẹn phúc lộc trường tồn cho muôn đời con cháu.

Việc Di tích lịch sử Đền Song Trung cùng lăng mộ Hoàng Vĩnh Tộ và Hoàng Vĩnh Dụ được xếp hạng Di tích Quốc gia đã thêm một lần nữa khẳng định giá trị lịch sử, văn hóa đặc sắc, gắn bó không thể tách rời với truyền thống dựng nước và giữ nước vĩ đại của dân tộc. Sự công nhận này không chỉ bồi đắp niềm tự hào dân tộc sâu sắc, mà còn đóng góp quan trọng vào công tác giáo dục, phát huy những giá trị truyền thống của vùng đất địa linh nhân kiệt cho các thế hệ hôm nay và mai sau.

Hoàng Minh Tiến

Chia sẻ:

Bài viết liên quan