Lê Duẩn: Tổng Bí thư kiệt xuất, nhà lãnh đạo cách mạng Việt Nam vĩ đại
Tổng Bí thư Lê Duẩn là một nhân vật kiệt xuất với những cống hiến vĩ đại cho sự nghiệp cách mạng Việt Nam, nổi bật với sự quan tâm sâu sắc đến quần chúng nhân dân, đặc biệt là nông dân. Ông thể hiện tầm nhìn chiến lược và tinh thần tiến công mạnh mẽ qua "Đề cương cách mạng miền Nam" năm 1956, làm nền tảng cho Nghị quyết 15 (1959), chuyển đổi chiến lược từ phòng thủ sang tiến công để giải phóng miền Nam. Lê Duẩn cũng kiên định với tinh thần tự cường dân tộc, luôn đề cao vai trò quyết định của nhân tố con người Việt Nam trong chiến tranh nhân dân. Với tư duy độc lập, biện chứng, ông nhấn mạnh sự cần thiết phải thấu hiểu con người và thực tiễn Việt Nam, tránh vay mượn lý thuyết xa rời thực tế. Di sản tư tưởng của ông vẫn giữ nguyên giá trị, là bài học quý báu cho hiện tại và tương lai.
QTO – Tổng Bí thư Lê Duẩn, một nhân vật kiệt xuất trong lịch sử Việt Nam hiện đại, đã để lại dấu ấn sâu sắc với tầm ảnh hưởng rộng lớn và những cống hiến vĩ đại cho sự nghiệp cách mạng của Đảng và dân tộc.
Mang bản chất của một nhà cách mạng nhân văn kiệt xuất, đồng chí Lê Duẩn luôn dành sự quan tâm sâu sắc đến quần chúng Nhân dân, đặc biệt là tầng lớp nông dân – lực lượng nòng cốt trong một quốc gia lấy nông nghiệp làm trọng tâm. Tinh thần này đã được thể hiện xuyên suốt từ những giai đoạn đầu tiên của sự nghiệp.
Khoảng gần chín thập kỷ trước, cụ thể vào năm 1939, đồng chí đã có những đóng góp quan trọng vào nghị quyết của Đảng, qua đó thể hiện tầm nhìn chiến lược và phương pháp cách mạng phù hợp trong việc bảo vệ quyền lợi của nông dân. Nhận định của Trung ương Đảng về giai đoạn này đã khẳng định rõ: “Dưới sự lãnh đạo của Lê Duẩn, Xứ ủy Nam Bộ đã triển khai chính sách ruộng đất ‘người nông dân có ruộng cày’ không qua các hành động tước đoạt bằng bạo lực, đấu tố hay cưỡng bức địa chủ, mà bằng những chủ trương và biện pháp đúng đắn, phù hợp với bối cảnh đặc thù của Nam Bộ thời điểm đó”.
![]() |
| Chân dung Tổng Bí thư Lê Duẩn. |
Tinh thần tự cường dân tộc, kiên định với tư tưởng tiến công và không lùi bước trước mọi thế lực xâm lược, dù hùng mạnh hay mưu hiểm, là một trong những đặc điểm nổi bật trong tư duy của ông. Trong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ, tinh thần này được quán triệt rõ nét qua “Thư vào Nam” – văn kiện tập hợp những chỉ đạo chiến lược cốt yếu cho cách mạng miền Nam.
Hậu kháng chiến chống Pháp, cục diện cách mạng có nhiều biến chuyển sâu sắc khi Mỹ thế chân Pháp tại miền Nam. Tư tưởng tiến công, với quyết tâm giành độc lập và thống nhất đất nước, được định hình rõ nét qua “Đề cương cách mạng miền Nam” do đồng chí Lê Duẩn, lúc bấy giờ là Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Xứ ủy Nam Bộ, soạn thảo vào năm 1956. Bản đề cương này đã trở thành nền tảng trọng yếu cho Nghị quyết 15 của Trung ương Đảng năm 1959, qua đó xác định mục tiêu và phương pháp cách mạng miền Nam một cách rõ ràng, chuyển đổi chiến lược từ phòng thủ sang tiến công, kết hợp đấu tranh chính trị với đấu tranh vũ trang để giải phóng hoàn toàn miền Nam.
Năm 2006, cố Thủ tướng Võ Văn Kiệt đã ghi nhận ý nghĩa sâu sắc của bản đề cương này trong một bài viết: “Đề cương cách mạng miền Nam đã được thai nghén và dần hoàn thiện trong tư duy của đồng chí Lê Duẩn ngay từ khi kẻ thù gia tăng đàn áp, khủng bố cán bộ, đồng bào ta, và nỗ lực phá vỡ các cơ sở cách mạng tại vùng đồng bằng châu thổ sông Cửu Long. Tại Quản Phú, thuộc Vàm Đình, xã Tân Hưng Tây, huyện Cái Nước, đồng chí từng căn dặn tôi phải theo dõi chặt chẽ những cuộc tàn sát đẫm máu của địch để kịp thời khơi dậy lòng căm thù sâu rộng trong quần chúng, hướng tới việc sử dụng bạo lực cách mạng nhằm đối phó với bạo lực phản cách mạng”.
Trong giai đoạn kháng chiến chống Mỹ cứu nước, khi một số cán bộ và quần chúng nảy sinh tâm lý e ngại trước cuộc chiến trường kỳ, gian khổ, đồng chí đã kịp thời chấn chỉnh tư tưởng, loại bỏ những dao động, hữu khuynh có nguy cơ xuất hiện trong một cuộc đối đầu lịch sử đầy thách thức và không cân sức.
Nhận định về cuộc chiến đấu 81 ngày đêm anh dũng bảo vệ Thành Cổ Quảng Trị vào mùa hè năm 1972, đồng chí Lê Duẩn đã khẳng định một chân lý sâu sắc: “Chúng ta kiên cường không phải vì chúng ta là gang thép – bởi gang thép cũng sẽ tan chảy dưới mưa bom bão đạn của kẻ thù – mà chính chúng ta là những con người, những con người thực sự, những con người Việt Nam…”. Luận điểm này đã làm nổi bật và đề cao đúng mức vai trò quyết định của nhân tố con người trong chiến tranh nhân dân. Thắng lợi của cuộc chiến tranh nhân dân, trước hết và quan trọng nhất, chính là nhờ vào tinh thần và ý chí của con người, đặc biệt là con người Việt Nam trong nửa sau thế kỷ XX.
Là một nhà cách mạng uyên bác, đồng chí Lê Duẩn luôn vận dụng một cách nhuần nhuyễn phép biện chứng duy vật và lịch sử trong việc phân tích các hiện tượng xã hội và đánh giá con người. Ông đặc biệt nhấn mạnh sự cần thiết của một phương pháp luận khoa học, biện chứng trong nghiên cứu về con người, tránh xa những sự vay mượn, vọng ngoại thiếu căn cứ, không phù hợp với thực tiễn Việt Nam, vốn có thể ảnh hưởng tiêu cực đến quá trình xây dựng con người mới.
Ông chỉ ra rằng, khi lý thuyết tách rời thực tiễn sẽ không còn là kim chỉ nam đáng tin cậy cho hành động và dễ dẫn đến chệch hướng: “Con người là sản phẩm lịch sử của một xã hội cụ thể. Khi chuyển sang một xã hội khác, cần phải lấy con người của xã hội cũ làm cơ sở để phát biểu cho đúng, để đưa cái cũ lên cái mới một cách phù hợp, nếu không sẽ thất bại. Thế nhưng, điều đáng lo ngại là dù là người Việt Nam, chúng ta vẫn chưa thực sự thấu hiểu con người Việt Nam, lại còn lệ thuộc một cách công thức vào các lý thuyết từ bên ngoài, khiến cho tư tưởng về xây dựng con người vẫn còn xa rời thực tế”.
![]() |
| Du khách và người dân đến tham quan, tìm hiểu sâu sắc về cuộc đời, thân thế và sự nghiệp vĩ đại của Tổng Bí thư Lê Duẩn tại Khu lưu niệm ở xã Triệu Phong. Ảnh: N.V |
Tổng Bí thư Lê Duẩn còn đưa ra lời nhắc nhở và cảnh báo sâu sắc về khuynh hướng chủ quan, dễ dãi trong việc nghiên cứu con người Việt Nam nhằm phục vụ công cuộc cách mạng. Đây là một quan niệm có ý nghĩa đặc biệt và là đóng góp vô cùng quan trọng trong hệ tư tưởng của ông khi bàn về vai trò, nghiên cứu và xây dựng con người mới Việt Nam: “Chúng ta là người Việt Nam, nhưng việc thấu hiểu chính mình không hề dễ dàng; hiện tại chúng ta chưa thực sự hiểu rõ người Việt Nam. Muốn hiểu rõ, cần phải đối chiếu với người khác, nếu không chúng ta sẽ không thể hiểu được bản thân. Một khi đã là con người, phải có những nét riêng biệt. Không thể tồn tại một con người siêu hình. Không thể phá vỡ đơn vị con người. Nếu không còn những đặc trưng riêng của con người, xã hội sẽ mất đi mọi ý nghĩa và cơ sở tồn tại”.
Đồng chí Lê Duẩn luôn thấm nhuần tinh thần tự học hỏi nghiêm túc, cùng một tư duy độc lập, không ngừng trăn trở, sáng tạo, không bị ràng buộc bởi các lý luận hay lý thuyết có sẵn, mà luôn gắn kết chặt chẽ với thực tiễn đời sống cách mạng. Nhà báo Phan Quang đã kể lại: “Khi đến thăm trường Đảng, nơi các học viên là cán bộ trung, cao cấp đang nghiên cứu lịch sử Đảng, đồng chí Lê Duẩn đã trò chuyện với anh em ở hành lang và đặt câu hỏi: “Các đồng chí đang học lịch sử Đảng, vậy theo các đồng chí, bài học nào của Đảng là đáng ghi nhớ nhất?”
Mỗi người đưa ra một đáp án, và tất cả đều có lý. Ông mỉm cười và nói: “Theo tôi, bài học vĩ đại nhất của Đảng ta chính là khả năng độc lập suy nghĩ, giải quyết các vấn đề của cách mạng Việt Nam dựa trên sự đánh giá khách quan, đúng đắn về tình hình thực tế của đất nước”.
Di sản tư tưởng và những cống hiến của Tổng Bí thư Lê Duẩn vẫn cần được tiếp tục tìm hiểu và nghiên cứu sâu rộng trên nhiều bình diện. Kỷ niệm Ngày sinh của ông là dịp quý báu để mỗi cán bộ, đảng viên, bất kể cương vị nào, tự răn mình, tự tu dưỡng để phòng chống mọi nguy cơ suy thoái, xa rời quần chúng, qua đó không ngừng phấn đấu trở thành một người cộng sản tiên phong, gương mẫu. Đây là mong muốn và lẽ sống cao đẹp cần được đề cao, đồng thời là mục tiêu để chúng ta nỗ lực hướng tới, đúng như ước vọng của Tổng Bí thư Lê Duẩn.
Cống hiến trọn đời mình cho sự nghiệp cách mạng của Đảng và dân tộc, Tổng Bí thư Lê Duẩn đã hiến dâng toàn bộ tài năng, trí tuệ và sức lực cho Đảng và Nhân dân. Trong bối cảnh hiện nay, những quan điểm sâu sắc của ông về “lao động, tình thương và lẽ phải” vẫn giữ nguyên giá trị thời sự và tính bền vững.
Phạm Xuân Dũng






