Việt Nam đã ban hành Chương trình quốc gia về bảo vệ trẻ em và phòng ngừa, giảm thiểu trẻ em lao động trái quy định của pháp luật giai đoạn 2026-2030. Mục tiêu xuyên suốt của Chương trình là đảm bảo mọi trẻ em sống và phát triển trong môi trường an toàn, lành mạnh, giảm thiểu tối đa tình trạng xâm hại trẻ em. Đến năm 2030, Chương trình đặt mục tiêu 100% gia đình và học sinh được trang bị kiến thức, kỹ năng bảo vệ trẻ em, và 100% trẻ em bị xâm hại hoặc có nguy cơ sẽ nhận được sự hỗ trợ và can thiệp kịp thời.
Chương trình cũng phấn đấu giảm tỷ lệ trẻ em bị bạo lực, xâm hại tình dục ít nhất 5% mỗi năm, và giảm tỷ lệ lao động trẻ em (5-17 tuổi) xuống dưới 1,1%. Để hiện thực hóa các mục tiêu này, các giải pháp chính tập trung vào hoàn thiện khung pháp lý, nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ, phát triển hệ thống dịch vụ bảo vệ trẻ em tích hợp và liên ngành, đẩy mạnh công tác phòng ngừa, phát hiện lao động trẻ em, cùng với tăng cường hợp tác quốc tế và ứng dụng công nghệ thông tin.
Hướng tới năm 2030, Việt Nam đặt mục tiêu chiến lược: 100% gia đình có trẻ em được trang bị kiến thức, kỹ năng bảo vệ trẻ em thông qua đa dạng hình thức; đồng thời, 100% học sinh được trang bị kiến thức, kỹ năng sống và kỹ năng tự bảo vệ thiết yếu.
Ngày 28/7/2026, Phó Thủ tướng Chính phủ Phạm Thị Thanh Trà đã ký Quyết định số 1415/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ, chính thức ban hành Chương trình quốc gia về bảo vệ trẻ em và phòng ngừa, giảm thiểu trẻ em lao động trái quy định của pháp luật giai đoạn 2026-2030 (sau đây gọi tắt là Chương trình).
![]() ![]() |
| Lực lượng Công an tổ chức các hoạt động vui Tết Trung thu cho trẻ em tại làng Aur (xã biên giới A Vương, thành phố Đà Nẵng). (Ảnh: TTXVN phát) |
Chương trình được thiết lập với mục tiêu xuyên suốt là đảm bảo mọi trẻ em đều được sống và phát triển trong môi trường an toàn, lành mạnh; hướng tới giảm thiểu tối đa tình trạng trẻ em bị xâm hại trên toàn quốc. Đồng thời, Chương trình tạo điều kiện toàn diện cho trẻ em bị bạo lực, xâm hại tình dục, trẻ em lao động trái pháp luật (gọi tắt là lao động trẻ em), trẻ em có nguy cơ cao bị bạo lực, bóc lột, bỏ rơi và trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khác được tái hòa nhập cộng đồng, phát triển toàn diện, góp phần hiện thực hóa các mục tiêu phát triển bền vững liên quan đến trẻ em.
Phấn đấu đến năm 2030, 100% trẻ em bị xâm hại hoặc có nguy cơ bị bạo lực, bóc lột, bỏ rơi sẽ nhận được sự hỗ trợ và can thiệp kịp thời. Cụ thể, 100% gia đình có trẻ em sẽ được cung cấp kiến thức và kỹ năng về bảo vệ trẻ em qua nhiều hình thức đa dạng; 100% học sinh được trang bị kiến thức, kỹ năng sống, kỹ năng tự bảo vệ trước các hành vi xâm hại, bạo lực học đường, bạo lực trên môi trường mạng, cùng với các kỹ năng phòng ngừa lao động trẻ em, tất cả đều được thiết kế phù hợp với từng lứa tuổi.
Đồng thời, 100% công chức, viên chức, và những người trực tiếp làm công tác bảo vệ trẻ em tại các cơ quan quản lý y tế, giáo dục; các cơ sở khám chữa bệnh, cơ sở trợ giúp xã hội, cơ sở giáo dục, cùng các cơ quan, tổ chức có trách nhiệm bảo vệ trẻ em sẽ được nâng cao năng lực chuyên môn về bảo vệ trẻ em, phòng, chống xâm hại trẻ em và lao động trẻ em.
Chương trình cũng đặt ra mục tiêu 90% doanh nghiệp đang hoạt động, hợp tác xã, hộ gia đình và cơ sở kinh doanh dịch vụ sẽ được cung cấp thông tin, kiến thức, và kỹ năng cần thiết để phòng ngừa, phát hiện, và giảm thiểu tình trạng lao động trẻ em.
Về triển khai mô hình, 100% tỉnh, thành phố sẽ áp dụng mô hình cung cấp dịch vụ bảo vệ trẻ em tích hợp; 95% cấp xã sẽ triển khai mô hình cung cấp dịch vụ bảo vệ trẻ em liên ngành, và 100% cấp xã sẽ thành lập phòng điều tra thân thiện.
Chương trình đặt ra mục tiêu giảm tỷ lệ trẻ em bị bạo lực, xâm hại tình dục ít nhất 5% mỗi năm; đồng thời, giảm tỷ lệ lao động trẻ em (đối tượng từ 5-17 tuổi) xuống dưới 1,1%.
Khi được phát hiện, 100% trẻ em bị xâm hại, hoặc có nguy cơ bị bạo lực, bóc lột, bỏ rơi sẽ được hỗ trợ và can thiệp kịp thời, phù hợp. Mọi yêu cầu trợ giúp pháp lý cho trẻ em sẽ được đáp ứng đầy đủ theo quy định của pháp luật.
Mục tiêu tiếp theo là 100% trẻ em bị xâm hại, trẻ em có nguy cơ bị bạo lực, bóc lột, bỏ rơi, cùng các trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khác sẽ được quản lý trên hệ thống cơ sở dữ liệu trẻ em, đồng thời kết nối và chia sẻ dữ liệu với các hệ thống liên quan.
Để hiện thực hóa các mục tiêu trên, Chương trình đã đề ra những nhiệm vụ và giải pháp cụ thể, bao gồm: Hoàn thiện khung pháp lý cùng các cơ chế, chính sách, tiêu chuẩn, và hướng dẫn liên quan đến bảo vệ trẻ em; đổi mới công tác tuyên truyền, giáo dục pháp luật về bảo vệ trẻ em và tăng cường năng lực cho đội ngũ cán bộ; phát triển hệ thống dịch vụ bảo vệ trẻ em; đẩy mạnh công tác phòng ngừa, phát hiện, hỗ trợ và can thiệp đối với lao động trẻ em và trẻ em có nguy cơ trở thành lao động trẻ em; tăng cường hợp tác quốc tế và thúc đẩy ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số trong lĩnh vực bảo vệ trẻ em.
Chương trình tập trung vào việc Xây dựng, hoàn thiện các quy định về dịch vụ bảo vệ trẻ em. Cụ thể, về hoàn thiện quy định pháp luật và các cơ chế, chính sách, tiêu chuẩn, hướng dẫn về bảo vệ trẻ em, Chương trình yêu cầu:
Tiến hành nghiên cứu, sửa đổi, bổ sung Luật Trẻ em và các quy định pháp luật liên quan, nhằm đảm bảo sự phù hợp với chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước và các điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên hoặc tham gia ký kết, đặc biệt chú trọng đến chính sách hỗ trợ các tổ chức, cơ sở, gia đình, cá nhân tham gia cung cấp dịch vụ bảo vệ trẻ em.
Nghiên cứu xây dựng và hoàn thiện các quy định về dịch vụ bảo vệ trẻ em; thiết lập quy trình, tiêu chuẩn, định mức kinh tế-kỹ thuật cho các dịch vụ này; xác định rõ tiêu chí đối với lao động trẻ em, trẻ em có nguy cơ trở thành lao động trẻ em; đồng thời xây dựng cơ chế phối hợp liên ngành hiệu quả giữa các cơ quan, tổ chức liên quan trong phòng, chống bạo lực, xâm hại tình dục trẻ em và phòng ngừa, giảm thiểu lao động trẻ em.
Về công tác tuyên truyền, giáo dục pháp luật về bảo vệ trẻ em và nâng cao năng lực thực thi, Chương trình nhấn mạnh việc tổ chức triển khai truyền thông, phổ biến kiến thức, kỹ năng, và vận động xã hội thực hiện quyền trẻ em, trách nhiệm bảo vệ trẻ em. Định hướng triển khai tập trung vào ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số, và khai thác tối đa lợi thế của môi trường mạng, đảm bảo tính trọng tâm, trọng điểm, thiết thực và phù hợp với từng nhóm đối tượng, từng vùng miền; ưu tiên các vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo, vùng khó khăn và vùng đồng bào dân tộc thiểu số.
Xây dựng và phát triển các chương trình, sản phẩm, tài liệu truyền thông nhằm nâng cao năng lực về bảo vệ trẻ em, phòng, chống xâm hại trẻ em, phòng ngừa lao động trẻ em. Đồng thời, tăng cường giáo dục pháp luật về trách nhiệm của gia đình, cá nhân, cơ sở giáo dục, cơ sở trợ giúp xã hội cùng các cơ quan, tổ chức đối với việc bảo vệ trẻ em, phòng, chống bạo lực, xâm hại tình dục trẻ em và phòng ngừa lao động trẻ em.
Tổ chức các khóa bồi dưỡng, đào tạo, tập huấn chuyên sâu nhằm nâng cao năng lực về bảo vệ trẻ em, trợ giúp pháp lý, phòng, chống bạo lực, xâm hại tình dục trẻ em, phòng ngừa, giảm thiểu lao động trẻ em, bảo vệ trẻ em trên môi trường mạng và công tác xã hội đối với trẻ em. Đối tượng tham gia bao gồm đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức làm công tác bảo vệ, chăm sóc, giáo dục trẻ em, người cung cấp dịch vụ bảo vệ trẻ em, mạng lưới cộng tác viên, cán bộ quản lý hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã, tổ hợp tác, cùng các doanh nghiệp, cá nhân, tổ chức có liên quan.
![]() ![]() |
| Trẻ em trên đảo Đá Tây A. (Ảnh: Xuân Quý/TTXVN) |
Chương trình cũng chú trọng Nhân rộng các mô hình cung cấp dịch vụ bảo vệ trẻ em. Đối với việc phát triển hệ thống cung cấp dịch vụ bảo vệ trẻ em, Chương trình yêu cầu:
Nghiên cứu lồng ghép và kết hợp hiệu quả các dịch vụ y tế, giáo dục, tư pháp, trợ giúp pháp lý cùng các dịch vụ an sinh xã hội; thúc đẩy liên kết chặt chẽ giữa các cơ sở cung cấp dịch vụ bảo vệ trẻ em ở mọi cấp độ để xây dựng mạng lưới dịch vụ liên thông, toàn diện, đảm bảo trẻ em và gia đình được tiếp cận dịch vụ một cách kịp thời và hiệu quả.
Nhân rộng các mô hình cung cấp dịch vụ bảo vệ trẻ em, phòng ngừa và giảm thiểu lao động trẻ em đã được chứng minh về chất lượng và hiệu quả. Các mô hình này bao gồm dịch vụ bảo vệ trẻ em tích hợp, dịch vụ bảo vệ trẻ em liên ngành, và phòng điều tra thân thiện.
Chương trình cũng yêu cầu tập trung vào công tác phòng ngừa, phát hiện lao động trẻ em và trẻ em có nguy cơ trở thành lao động trẻ em, đặc biệt ưu tiên trong các lĩnh vực nông nghiệp, chuỗi cung ứng, cơ sở sản xuất nhỏ lẻ, hộ gia đình, kinh doanh cá thể và các làng nghề truyền thống.
Triển khai quy trình hỗ trợ, can thiệp đối với lao động trẻ em và trẻ em có nguy cơ trở thành lao động trẻ em, đặc biệt đảm bảo trẻ em được tiếp cận đầy đủ các chính sách, chương trình và dịch vụ an sinh xã hội, giáo dục phổ thông, đào tạo nghề phù hợp. Đồng thời, hỗ trợ các gia đình có lao động trẻ em hoặc trẻ em có nguy cơ nhằm cải thiện sinh kế, đào tạo nghề và giảm nghèo bền vững.
Khuyến khích các doanh nghiệp và hợp tác xã xây dựng cơ chế tự giám sát, đánh giá nguy cơ lao động trẻ em trong chuỗi cung ứng của mình và triển khai các biện pháp phòng ngừa phù hợp.
Về tăng cường hợp tác quốc tế và thúc đẩy ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số trong công tác bảo vệ trẻ em, Chương trình yêu cầu đẩy mạnh triển khai các hoạt động hợp tác quốc tế ở cả khu vực và trên thế giới; huy động và sử dụng hiệu quả nguồn lực hỗ trợ kỹ thuật từ các tổ chức quốc tế, các đối tác phát triển để thực hiện công tác bảo vệ trẻ em, phòng, chống bạo lực, xâm hại tình dục trẻ em và phòng ngừa, giảm thiểu lao động trẻ em.
Song song đó, Chương trình cũng yêu cầu cập nhật, chuẩn hóa và kết nối dùng chung dữ liệu trẻ em với các hệ thống cơ sở dữ liệu liên quan, đảm bảo an ninh, an toàn thông tin và bảo vệ dữ liệu cá nhân của trẻ em. Đồng thời, nghiên cứu và triển khai ứng dụng công nghệ thông tin trong việc thu thập, kết nối, chia sẻ dữ liệu về trẻ em có nguy cơ bị bạo lực, bóc lột, bỏ rơi, trở thành lao động trẻ em; trẻ em bị bạo lực; trẻ em bị xâm hại tình dục và lao động trẻ em.
Theo TTXVN/Vietnam+














