Dữ liệu Khiếu nại Tố cáo: Hướng dẫn khai thác chuẩn, ai được quyền?

2

Chính phủ vừa ban hành Nghị định 197/2026/NĐ-CP, thiết lập khuôn khổ pháp lý cho Cơ sở dữ liệu quốc gia về tiếp công dân, xử lý đơn và giải quyết khiếu nại, tố cáo. Cơ sở dữ liệu này sẽ được xây dựng tập trung, đồng bộ, số hóa toàn diện thông tin liên quan, đảm bảo giá trị pháp lý và cập nhật theo thời gian thực. Nghị định quy định rõ thẩm quyền, phạm vi khai thác dữ liệu cho các cơ quan, tổ chức, cá nhân được ủy quyền, đồng thời cho phép công dân theo dõi vụ việc và yêu cầu thông tin cá nhân. Các nguyên tắc vận hành nhấn mạnh tính bảo mật, công khai, minh bạch, lấy người dân làm trung tâm và tự động hóa quy trình xử lý, giám sát. Hệ thống này sẽ chính thức có hiệu lực từ ngày 01/7/2026, góp phần hiện đại hóa công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo.

Chính phủ vừa chính thức công bố Nghị định số 197/2026/NĐ-CP, thiết lập khuôn khổ pháp lý cho Cơ sở dữ liệu quốc gia về tiếp công dân, xử lý đơn và giải quyết khiếu nại, tố cáo. Đặc biệt, Nghị định này làm rõ các quy định quan trọng về thẩm quyền và phạm vi khai thác dữ liệu trong lĩnh vực giải quyết khiếu nại, tố cáo.

Cơ quan, tổ chức, cá nhân được cấp quyền truy cập vào Cơ sở dữ liệu để thực hiện các hoạt động liên quan đến nhập, chuyển, xử lý đơn; giải quyết, theo dõi, nhận kết quả; khai thác và sử dụng dữ liệu theo chức năng, nhiệm vụ và phạm vi quyền hạn được giao.
Mọi cơ quan, tổ chức và cá nhân được ủy quyền sẽ có quyền tiếp cận Cơ sở dữ liệu, phục vụ các nghiệp vụ như tiếp nhận, luân chuyển, xử lý đơn thư; tiến hành giải quyết, theo dõi và nhận kết quả; cũng như khai thác, sử dụng dữ liệu một cách phù hợp với chức năng, nhiệm vụ và giới hạn quyền hạn được phân công.

Văn bản pháp luật này định rõ các nguyên tắc và quy trình trong việc hình thành, cập nhật, quản lý, khai thác và sử dụng Cơ sở dữ liệu quốc gia về tiếp công dân, xử lý đơn, giải quyết khiếu nại, tố cáo (gọi tắt là Cơ sở dữ liệu). Đồng thời, Nghị định cũng cụ thể hóa việc tổ chức cập nhật, xử lý, khai thác, sử dụng dữ liệu trên nền tảng số, cùng với việc xác định rõ trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan.

Phạm vi áp dụng của Nghị định bao gồm các bộ, cơ quan ngang bộ, Ủy ban nhân dân các cấp, cùng với các cơ quan, tổ chức và cá nhân có thẩm quyền trong hoạt động tiếp công dân, xử lý đơn thư, giải quyết khiếu nại, tố cáo, cũng như các chủ thể khác có liên quan.

Vị thế, chức năng và giá trị pháp lý của Cơ sở dữ liệu

Theo quy định của Nghị định, Cơ sở dữ liệu sẽ được thiết lập và vận hành một cách tập trung, đồng bộ trên quy mô toàn quốc, với mục tiêu chính là thu thập, lưu trữ, quản lý, liên thông, chia sẻ và khai thác các thông tin dữ liệu nhằm hỗ trợ hiệu quả công tác tiếp công dân, xử lý đơn thư và giải quyết khiếu nại, tố cáo.

Các dữ liệu trong Cơ sở dữ liệu sẽ được cập nhật và quản lý theo cơ chế thời gian thực, mang đầy đủ giá trị pháp lý theo các quy định hiện hành về giao dịch điện tử, dữ liệu và pháp luật chuyên ngành. Đặc biệt, các dữ liệu này có thể được khai thác và sử dụng để thay thế các văn bản, tài liệu giấy trong tình huống đảm bảo các yêu cầu về tính toàn vẹn, khả năng xác thực, truy cập, sử dụng và khi pháp luật không có quy định khác biệt.

Toàn bộ dữ liệu trong Cơ sở dữ liệu sẽ được số hóa và chuẩn hóa, bao gồm cả dữ liệu có cấu trúc và phi cấu trúc. Chúng sẽ được tổ chức và quản lý theo một kiến trúc thống nhất, đảm bảo khả năng liên kết, chia sẻ, trao đổi và khai thác liền mạch giữa các cơ quan, tổ chức trong hệ thống chính trị, tuân thủ chặt chẽ quy định pháp luật. Việc này đồng thời yêu cầu phân loại dữ liệu theo cấp độ an toàn trong suốt quá trình lưu trữ, chia sẻ và khai thác, nhằm kiểm soát chặt chẽ, giám sát hoạt động truy cập, phát hiện và xử lý kịp thời các sự cố, bảo vệ an ninh mạng. Đặc biệt, Nghị định cũng quy định rõ trách nhiệm của các chủ thể liên quan trong trường hợp dữ liệu bị lộ, mất mát hoặc bị truy cập trái phép.

Cơ sở dữ liệu sẽ được lưu trữ và vận hành tại Trung tâm dữ liệu quốc gia.

Các nguyên tắc chủ đạo trong việc xây dựng, cập nhật, quản lý, khai thác và sử dụng Cơ sở dữ liệu

Theo Nghị định, mọi hoạt động liên quan đến việc xây dựng, cập nhật, quản lý, khai thác và sử dụng Cơ sở dữ liệu phải triệt để tuân thủ các quy định pháp luật về tiếp công dân, xử lý đơn, giải quyết khiếu nại, tố cáo, bảo vệ bí mật nhà nước, bảo vệ dữ liệu cá nhân cũng như các văn bản pháp luật có liên quan khác.

Phải đảm bảo sự tương thích với Khung kiến trúc tổng thể quốc gia số, Khung kiến trúc dữ liệu quốc gia, Khung quản trị và quản lý dữ liệu quốc gia, cùng với Từ điển dữ liệu dùng chung. Đồng thời, cần đáp ứng các tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật hiện hành và cam kết khả năng liên thông, chia sẻ dữ liệu theo khuôn khổ pháp luật.

Dữ liệu phải được rà soát định kỳ, cập nhật liên tục và quản lý chặt chẽ nhằm đảm bảo tính kịp thời, đầy đủ, chính xác, thống nhất, đồng bộ, đồng thời tuân thủ đúng thẩm quyền, trình tự và thủ tục pháp lý.

Việc quản lý, vận hành, khai thác và sử dụng Cơ sở dữ liệu phải được thực hiện một cách nghiêm ngặt, an toàn, ổn định và thông suốt. Mọi hoạt động khai thác, sử dụng dữ liệu cần tuân thủ đúng phân quyền, đúng mục đích, đảm bảo tuyệt đối an toàn thông tin và an ninh mạng theo các quy định pháp luật hiện hành.

Đảm bảo lấy người dân làm trọng tâm, tạo mọi điều kiện thuận lợi để công dân có thể theo dõi và giám sát toàn bộ quá trình xử lý vụ việc của mình thông qua môi trường số.

Quá trình quản lý và vận hành Cơ sở dữ liệu cần đảm bảo tính công khai, minh bạch, với khả năng truy xuất nguồn gốc, lịch sử cập nhật và xác định rõ chủ thể thực hiện. Điều này cho phép dễ dàng kiểm tra, giám sát và làm rõ trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức, cá nhân liên quan.

Đảm bảo tự động hóa và số hóa toàn diện quy trình quản lý, xử lý dữ liệu, nhằm tối thiểu hóa các tác vụ thủ công.

Thẩm quyền và giới hạn khai thác Cơ sở dữ liệu

Nghị định quy định rõ các cơ quan, tổ chức và cá nhân được cấp quyền truy cập Cơ sở dữ liệu nhằm thực hiện các nghiệp vụ liên quan đến tiếp nhận, chuyển giao, xử lý đơn; giải quyết, theo dõi tiến độ và nhận kết quả; đồng thời khai thác, sử dụng dữ liệu trong khuôn khổ chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn được phân công.

Các cơ quan, tổ chức, cá nhân sau đây có quyền yêu cầu cung cấp thông tin và dữ liệu từ Cơ sở dữ liệu:

a) Tổng Bí thư, Chủ tịch nước, Thủ tướng Chính phủ, Chủ tịch Quốc hội, Thường trực Ban Bí thư, Phó Chủ tịch nước, các Phó Thủ tướng Chính phủ, Thành viên Chính phủ, các Phó Chủ tịch Quốc hội và Ủy viên Ủy ban Thường vụ Quốc hội được quyền yêu cầu cung cấp thông tin và dữ liệu trên phạm vi toàn quốc;

b) Ủy ban Kiểm tra Trung ương, Văn phòng Trung ương Đảng và các Ban Đảng Trung ương, Văn phòng Chủ tịch nước, Văn phòng Chính phủ, Văn phòng Quốc hội, Hội đồng Dân tộc và các Ủy ban của Quốc hội, Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cùng các đại biểu Quốc hội có quyền yêu cầu cung cấp thông tin, dữ liệu trên phạm vi toàn quốc;

c) Các Ban thuộc Hội đồng nhân dân cấp tỉnh, Văn phòng Đoàn đại biểu Quốc hội và Hội đồng nhân dân cấp tỉnh, Văn phòng Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, Văn phòng Tỉnh ủy, Thành ủy và các Ban trực thuộc Tỉnh ủy, Thành ủy, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc tỉnh cùng các đại biểu Hội đồng nhân dân cấp tỉnh được phép yêu cầu cung cấp thông tin và dữ liệu trong phạm vi quản lý của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh;

d) Văn phòng Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân cấp xã, Văn phòng cùng các ban thuộc Đảng ủy cấp xã, cơ quan Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp xã, và các đại biểu Hội đồng nhân dân cấp xã có quyền yêu cầu cung cấp thông tin, dữ liệu trong phạm vi quản lý của Ủy ban nhân dân cấp xã.

đ) Các cơ quan, tổ chức, cá nhân khác được phép yêu cầu cung cấp thông tin theo quy định của pháp luật hiện hành. 

Nghị định cũng chỉ rõ: Đối với việc khai thác và sử dụng các dữ liệu thuộc danh mục bí mật nhà nước trong Cơ sở dữ liệu, việc này phải tuân thủ nghiêm ngặt các quy định của pháp luật về bảo vệ bí mật nhà nước.

Việc khai thác dữ liệu sẽ được ưu tiên thực hiện thông qua phương thức điện tử, dựa trên cơ chế phân quyền truy cập. Các trường hợp cung cấp dữ liệu bằng văn bản sẽ được hạn chế tối đa, trừ khi có quy định khác từ pháp luật.

Công dân được quyền yêu cầu cung cấp thông tin cá nhân của mình do cơ quan nhà nước thu thập và lưu trữ trong Cơ sở dữ liệu theo đúng quy định. Đồng thời, họ cũng có quyền đề nghị cơ quan có thẩm quyền xem xét, cập nhật, sửa đổi hoặc bổ sung thông tin khi phát hiện sự không chính xác, tuân thủ theo quy định của pháp luật.

Nghị định này sẽ chính thức có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2026.

Theo Chinhphu.vn