Mưa xuân năm ấy: Khoảnh khắc định mệnh không thể nào quên

1

Một Việt kiều 65 tuổi trở về quê nhà Quảng Trị sau 40 năm xa xứ, với mong muốn tìm lại bóng hình xưa tại phiên chợ Đình làng Bích La, nơi chỉ họp duy nhất một đêm mùng hai Tết. Ông vẫn trân trọng giữ tờ tiền 5 hào màu hồng gấp hình trái tim, kỷ vật từ lần gặp gỡ định mệnh với cô gái bán lộc tên Đào 40 năm trước. Trong đêm mưa xuân hiện tại, ông hồi tưởng về kỷ niệm xưa và cẩn thận tìm kiếm vị trí cũ. Ông gặp một cô gái trẻ có nét tương đồng và qua lời người bán hàng, biết rằng cô là con gái của người phụ nữ ông đang tìm kiếm. Với hy vọng đoàn tụ, ông quyết định ngồi đợi trong phiên chợ, mân mê kỷ vật vô giá của mình.

QTO – Chuyến bay hạ cánh, một nỗi xúc động khó tả dâng trào trong lòng ông, cảm thức của người con xa xứ đã bốn mươi năm nay mới có dịp trở về. Bước chân ông run rẩy khi chạm lại đất mẹ, những bước đi đầu tiên tưởng chừng chênh vênh không vững.

Đêm mùng hai Tết tại sân bay Đà Nẵng, khung cảnh náo nhiệt với những cuộc hội ngộ người thân đón đợi. Riêng ông, một Việt kiều, lại chọn lối về thầm lặng. Ông muốn giữ bí mật chuyến đi, tạo bất ngờ cho bà con nơi quê nhà Quảng Trị. Tuy nhiên, thay vì về thẳng, ông còn một nhiệm vụ cấp thiết cần hoàn thành ngay trong đêm nay, một điều mà nếu bỏ lỡ, có lẽ sẽ không còn cơ hội.

Ở tuổi sáu lăm, những chuyến trở về quê hương đối với ông không còn nhiều. Mà phiên chợ Đình làng Bích La, nơi ông hướng đến, mỗi năm chỉ họp một lần duy nhất, từ đêm mùng hai đến rạng sáng mùng ba Tết. Đó là nơi ông ấp ủ tìm lại một bóng hình xưa.

Minh hoạ: TIẾN HOÀNG
Minh họa: Tiến Hoàng

Càng gần đến chốn quê, lòng ông càng trĩu nặng niềm hoài niệm. Ông rút ví, lấy ra một hình trái tim gấp bằng giấy, cẩn trọng mở từng nếp gấp. Lát sau, hình trái tim ấy xòe ra thành một tờ tiền giấy màu hồng – tờ bạc năm hào được ấn hành năm 1985. Giờ đây, tờ tiền này đã trở thành vật phẩm cổ, không còn giá trị lưu thông, nhưng ông vẫn trân trọng giữ gìn, mang theo bên mình suốt mấy mươi năm lưu lạc xứ người.

Ông vẫn chưa thể quên cái đêm khuya mùng hai Tết bốn mươi năm về trước, đêm mưa xuân se lạnh. Ngay cổng đình, nơi họp chợ, những mảnh xác pháo đỏ hồng ướt đẫm nước mưa. Mùi khói nhang thơm phảng phất khắp không gian. Dọc hai bên lối đi, những ngọn đèn dầu hỏa leo lét từ các gánh hàng bán lộc đầu năm. Mỗi người bán, phía sau cây đèn, ngồi cạnh chiếc mủng chất đầy những bó chè xanh và vài đùm muối biển. Ai đi chợ Đình cũng mua một nhánh chè cầu lộc và một gói muối hạt mang về nhà. Hàng trăm ánh đèn dầu tuy nhỏ bé nhưng hợp lại thành một vùng sáng mờ ảo, lập lòe như vườn sao rụng.

Thuở ấy, ông còn là một chàng trai ngoài đôi mươi, tràn đầy sức sống, mơ mộng và hoài bão. Nghe đồn chợ Đình làng Bích La không chỉ là nơi cầu an, cầu may, cầu tài lộc mà còn là chốn se duyên. Ông quyết định đi thử, xem vận may mình đến đâu.

Đúng mười hai giờ đêm, làng bắt đầu khai hội. Các cụ ông trong ban hương sự, khăn đóng áo dài chỉnh tề, dâng hương vái lạy. Tiếng chiêng, tiếng trống, và cả tiếng thanh la não bạt dồn dập vang lên, làm cho đêm xuân càng thêm rộn ràng. Tương truyền, cạnh đình làng Bích La xưa có một hồ nước, nơi ẩn cư của một con rùa vàng. Cứ đêm mùng hai Tết, rùa nổi lên báo hiệu một năm mưa thuận gió hòa, mùa màng bội thu. Có một năm rùa không hiện, dân làng gặp khó khăn, thất bát. Từ đó, làng tổ chức lễ cúng và hội chợ nhằm cầu gọi rùa vàng hiển linh.

Năm nay, liệu rùa thần có hiển linh? Người ta xì xào hỏi nhau, rồi tò mò kéo đến phiên chợ giữa đêm khuya. Tết mà, giờ giấc đâu còn quan trọng. Đám trai trẻ thì thầm rỉ tai nhau rằng phiên chợ này có rất nhiều gái đẹp, nào là những cô thôn nữ mang lộc đến bán, nào là các cô gái đi du xuân. Tha hồ mà ngắm nghía, tha hồ mà làm quen.

Ông chậm rãi đi qua dãy đèn dầu, lắng nghe tiếng mời chào rộn ràng. Bỗng, ông dừng lại trước gánh hàng của một cô gái trẻ. Cô không đon đả mời chào như những người khác, mà trong ánh sáng lờ mờ của đèn dầu, khuôn mặt cô ửng hồng, toát lên vẻ mộc mạc và xinh xắn. Nụ cười của cô khiến ông như bị hớp hồn. Ông đứng khựng lại một lúc lâu, sau đó mới khó khăn cất lời.

– O cho tui xin một nhánh chè lấy lộc.

– Năm mới năm mẻ, chúc anh gặp may.

Cô gái lấy bó lá chè buộc dây chuối trao cho ông. Ông luống cuống vụng về, hay cố ý giả vờ mà nắm lấy bàn tay cô, khiến cô cúi mặt e thẹn. Ông rút tờ giấy bạc một đồng ra trả.

– Năm hào thôi anh ơi.

– Tui không có năm hào, o cứ cầm lấy, coi như lì xì đầu năm.

– Cám ơn anh. Nhưng không được, như rứa thì mất lộc của anh. Đợi em chút.

Cô gái lục tìm tiền thối trong chiếc túi vải, nhưng lục mãi không ra tờ năm hào nào. Ông nấn ná không phải để đợi tiền thối, mà muốn nán lại thêm chút nữa để ngắm nhìn cô bán hàng.

Chợt, cô thọc tay vào túi áo, lấy ra một tờ tiền năm hào màu hồng đã được gấp thành hình trái tim.

– May mà còn năm hào này. Anh vui vẻ nhận giúp, nghe.

Nếu là tờ năm hào bình thường, có lẽ ông đã còn đưa đẩy thêm. Nhưng tờ tiền được xếp hình khéo léo quá khiến ông bất ngờ và thích thú, không thể từ chối.

Trên chiếc mủng đựng muối của cô gái, có một chiếc đòn gánh tre gác kê lên. Liếc qua, ông đọc được ở đầu đòn gánh có vệt sơn ghi chữ Đào, hẳn là để đánh dấu, tránh nhầm lẫn với đòn gánh của người khác.

– Cám ơn o. Chút nữa trời rạng sáng tui sẽ quay lại đây gặp… Đào.

– Răng anh biết tên em?

Phía sau, dòng người chen lấn xô đẩy. Ông không trả lời, chỉ tủm tỉm cười rồi luống cuống bước đi. Dù sao lát nữa ông cũng sẽ quay lại như đã hứa.

Ông tản bộ quanh hội chợ, ngắm cảnh mua bán xen lẫn những trò chơi dân gian. Một cụ bà nhai trầu bỏm bẻm, ngồi bán nhang, giấy vàng mã và cau trầu cho người đi lễ đình. Phía bên kia, một bánh xe gỗ tròn được sơn màu xen kẽ theo lối rẽ quạt, tâm bánh xe gắn vào một trục quay trên thân cây. Người chơi cầm phi tiêu gắn đuôi lông gà phóng vào bánh xe đang xoay tít. Khi bánh xe dừng, tiếng reo hò ồ lên rộn ràng khi phi tiêu cắm đúng ô đặt cược.

Ông cũng thử vận may với trò phóng phi tiêu. Những tờ tiền được rút ra đặt xuống bàn gỗ, rồi theo sau là những tiếng xì xào tiếc nuối. Khi hết tiền, ông đặt luôn tờ năm hào gấp hình trái tim mà cô gái vừa thối. Khi bánh xe chầm chậm sắp dừng hẳn, ông lờ mờ đoán biết ván cuối cùng này lại trật lất. Thế là ông giật phắt tờ tiền, co cẳng chạy. Ông không thể để mất tờ năm hào này được.

Phía sau, những tiếng la ó rượt đuổi đòi túm kẻ chơi gian. Ông cắm cổ chạy thoát khỏi đám đông, lủi vào ẩn mình trong một bụi cây rậm rạp phía xa. Đến khi trời sáng, ông mới dám quay lại tìm Đào, nhưng cô nàng đã không còn ở đó. Phiên chợ chỉ họp trong đêm, mỗi năm duy nhất một đêm, giờ thì đã vãn.

Đó là lần đầu tiên ông đi phiên chợ Đình, và cũng là lần duy nhất cho đến tận bây giờ. Sau cái Tết năm ấy, cuộc đời ông trôi dạt tha phương, rồi sang định cư tận Mỹ. Bốn mươi năm, từ chàng trai ngoài đôi mươi phơi phới, nay ông đã bạc tóc.

Ông nhận ra con đường vào phiên chợ thật đỗi thân quen, cứ như thể qua bốn thập kỷ, làng quê này vẫn giữ nguyên vẻ thanh bình và hồn hậu. Khác biệt duy nhất có lẽ là sự hiện diện của đèn điện, khiến quang cảnh sáng sủa hơn. Ai muốn tìm ai giữa chợ bây giờ chắc cũng dễ dàng hơn nhiều.

Chợ Đình đêm nay lại có mưa xuân lây phây. Người ta kháo nhau rằng đó là điềm may mắn, cầu gì được nấy. Ông đi thẳng vào ngôi đình cổ giữa chợ, thắp một nén nhang, miệng lẩm nhẩm khấn nguyện. Chiếc lư đại rậm rịt chân hương, lửa bén nhanh khiến nén nhang của ông cũng phực cháy. Ông vái tay lia lịa như tạ ơn lời khấn linh nghiệm.

Ông đi thật chậm, cố tìm lại cái vị trí năm xưa từng gặp cô gái. Chỗ ấy có một gốc cây lưu niên, giờ đây đã to lớn sừng sững, tán xòe che rợp một khoảnh đất. Ông lướt chậm qua dãy hàng của những người bán lộc đầu năm, nhìn kỹ từng khuôn mặt. Nếu gặp được, người con gái năm xưa của ông giờ cũng đã ngoài sáu mươi, thật khó lòng mà nhận ra.

Rồi ông dừng lại trước một cô gái có nét hao hao người ấy. Linh tính thôi thúc khiến ông cứ ngờ ngợ. Ông lại nhìn thấy chiếc đòn gánh tre kê nơi chiếc mủng của cô. Dù trên chiếc đòn gánh nét chữ đã phai mờ không còn đọc rõ, nhưng ông đã lượn đi lượn lại ba vòng ở đây rồi, đó là chiếc đòn gánh duy nhất còn dùng triêng gióng trong thời đại này.

Khách đi chợ chen lấn ồn ào, lúc này muốn hỏi cô gái điều gì cũng không tiện, mà ông vẫn chưa biết nên hỏi ra sao. Ông sang quầy bán đồ chơi trẻ con đối diện ngồi nghỉ chân. Cầm con tò he đất lên chúm miệng thổi, ông thấy mình như trở lại những ngày thơ trẻ. Ông bắt chuyện với cụ già bán hàng, hỏi vu vơ chuyện làng mạc xong, ông hú họa hỏi thăm về cô gái bán lộc phía trước.

– À, đó là cô con gái, hình như nhà ở gần đây. Năm nào hai mẹ con cũng gánh chè ra đây bán lộc. Không biết răng mà năm nay bà ấy không đi chợ, hay là chút nữa bà mới tới. Giờ hãy còn sớm, chợ chỉ mới bắt đầu thôi mà.

Ông bần thần, trong lòng xen lẫn những cảm xúc vui mừng, hồi hộp, lo lắng. Ông rút tờ bạc năm hào ra mân mê. Một trái tim hồng, ông vẫn giữ, dẫu mấy chục năm qua nó chỉ còn là tờ giấy lộn không hơn không kém. Thì có sao đâu, kỷ niệm là vô giá mà.

Ông sẽ ngồi đây đợi thêm chút nữa.

Phiên chợ bữa ấy, mưa xuân vẫn lây phây.

Truyện ngắn của Hoàng Công Danh

Nguồn: Nguồn bài viết