Anh hùng Phà Gianh: Chuyện tình mùa xuân lịch sử

5

Bài báo kể về Anh hùng Lao động Võ Xuân Khuể, một nhân chứng lịch sử gắn liền với bến phà Gianh huyền thoại trong cuộc kháng chiến chống Mỹ. Khi mới 19 tuổi, ông đã xung phong tham gia đơn vị vận tải trên sông Gianh, thực hiện mọi nhiệm vụ từ lái phà, ca nô đến rà phá thủy lôi. Ông nổi bật với việc sáng tạo phương pháp dùng ca nô lướt để mở rộng luồng lạch, đảm bảo huyết mạch giao thông luôn thông suốt dù đối mặt với bom đạn khốc liệt. Cụ từng đối mặt với cái chết đến 8 lần, với những kỷ niệm kinh hoàng như bị thủy lôi hất tung xuống sông hay quả cảm thay thế đồng đội hy sinh để lái xe chở tên lửa qua sông dưới làn đạn địch. Với những cống hiến to lớn, cụ Võ Xuân Khuể đã được trao tặng danh hiệu Anh hùng Lao động và hiện tại sống hạnh phúc bên gia đình, luôn căn dặn con cháu về đạo lý, tình người và mong cầu quê hương phát triển.

QTO – Giữa những ngày xuân se lạnh trước thềm Tết Bính Ngọ 2026, khi mưa gió vẫn còn vương vấn, chúng tôi đã vượt chặng đường về phường Ba Đồn, với mong muốn được diện kiến một nhân chứng lịch sử – người anh hùng gắn liền với bến phà Gianh huyền thoại.

Dù bận rộn với công việc địa phương, các cán bộ xã Nam Gianh vẫn nhiệt tình hướng dẫn chúng tôi đến làng La Hà – một trong bát danh hương trứ danh của Quảng Bình xưa, nơi ngụ của Anh hùng Võ Xuân Khuể. Ngày chúng tôi ghé thăm, gia đình đang tổ chức lễ giỗ, không khí trong nhà tràn ngập tiếng nói cười của con cháu quây quần bên mâm cỗ. Khi chúng tôi bước vào, mọi ánh mắt đều hướng về phía khách lạ, và một cụ ông với vóc dáng rắn rỏi, quắc thước, dù đã cao tuổi, đã thân ái mời chúng tôi vào nhà.  

Anh hùng Võ Xuân Khuể (bên trái) - Ảnh: P.X.D
Anh hùng Võ Xuân Khuể (trái) – Nguồn ảnh: P.X.D

Vượt qua giây phút bất ngờ ban đầu, cụ ông Võ Xuân Khuể (sinh năm 1946) chào đón chúng tôi bằng chất giọng hào sảng, ấm áp. Cụ kể, khi cuộc chiến tranh phá hoại miền Bắc của đế quốc Mỹ vừa bùng nổ, cụ đã xung phong gia nhập đơn vị vận tải trên sông Gianh khi mới vừa tròn 19 tuổi.

Cụ Khuể bồi hồi kể lại: “Trước khi tham gia cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, tôi là một người nông dân, và nay khi hòa bình lập lại, tôi vẫn trở về với ruộng đồng. Cuộc đời tôi đã kinh qua nhiều màu áo: từ áo nông dân, đến quân phục công binh, rồi áo công nhân, tất cả đều gắn liền với bến phà Gianh; thậm chí có thời gian đi học, tôi cũng khoác lên mình áo học trò. Trong suốt thời gian công tác tại phà Gianh, dù là chèo đò, lái ca nô, điều khiển phà, hay rà phá thủy lôi, bất cứ nhiệm vụ nào được cấp trên giao phó, tôi đều nỗ lực thực hiện một cách tốt nhất. Dẫu chưa dám tự nhận là xuất sắc, nhưng tôi luôn cố gắng hết sức mình, không hề quản ngại khó khăn, gian khổ. Hồi đó, ai cũng như vậy cả. Ngay cả khi bão lụt ập đến, trong khi người dân tìm nơi trú ẩn an toàn, thì nhiệm vụ của chúng tôi là phải bám trụ dòng sông, bảo vệ an toàn cho các phương tiện vận tải…”

Khi nói về sự khốc liệt của chiến tranh, cụ Khuể trầm ngâm hồi tưởng: “Kẻ địch biết rõ phà Gianh là yết hầu giao thông chiến lược, nên chúng đã điên cuồng đánh phá suốt ngày đêm nhằm cắt đứt nguồn tiếp viện của ta cho tiền tuyến. Bom đạn giăng kín trời đất, chúng bắn rốc két, rải bom bi, và phóng thủy lôi hòng phong tỏa hoàn toàn. Có những lúc, sự sống và cái chết chỉ cách nhau trong gang tấc. Nhưng tất cả anh em chúng tôi đều đã xác định, dù phải hy sinh, cũng quyết tâm hoàn thành nhiệm vụ, đảm bảo cho tuyến giao thông huyết mạch luôn được thông suốt.”

Trong những năm tháng kháng chiến chống Mỹ ác liệt, cụ Võ Xuân Khuể nổi bật là một chiến sĩ dũng cảm, mưu trí khi đã sáng tạo ra phương pháp dùng ca nô lướt để rà phá thủy lôi, mở rộng luồng lạch, đảm bảo bến phà Gianh luôn hoạt động an toàn và hiệu quả. Chính sự quả cảm đó đã góp phần giữ vững huyết mạch giao thông quan trọng, chi viện kịp thời cho chiến trường miền Nam. Bản thân cụ đã từng đối mặt với cái chết đến 8 lần do bom đạn kẻ thù.

“Bác có thể chia sẻ một kỷ niệm đáng nhớ nhất trong cuộc đời quân ngũ?”, tôi khẽ đề nghị. Cụ Khuể chậm rãi kể: “Đó là ngày 14 tháng 8 năm 1967. Khi chiếc phà đang giữa dòng sông thì địch bất ngờ phóng thủy lôi. Một tiếng nổ kinh hoàng vang lên, hất tung tôi lên không trung rồi rơi mạnh xuống sông. May mắn thay, tôi không va vào vật cứng nào, nếu không thì chắc chắn đã gãy xương. Sóng nước cuốn tôi chìm sâu xuống đáy sông, tôi dồn hết sức mình đạp chân vào cát để ngoi lên. Khi chạm được mặt nước, thật may mắn, tôi vớ được vỏ một chiếc thùng nhiên liệu của ca nô và cứ thế trôi theo dòng. Tưởng chừng đã thoát nạn, nào ngờ một quả thủy lôi khác lại nổ tung gần kề, một lần nữa đẩy tôi chìm xuống đáy sông. Lần này, tôi lại cố hết sức ngoi lên và vớ được một tấm ván, tiếp tục trôi khoảng 50 mét nữa trước khi được anh em đồng đội cứu sống. Tôi bị thương nhiều nơi trên cơ thể. Khi được đưa lên chiếc thuyền nhỏ, tôi nằm giữa lòng thuyền, may mắn vẫn còn sống. Nằm hai bên cạnh tôi là thi thể của hai chiến sĩ lái xe vừa hy sinh ngay tại bến phà Gianh. Một kỷ niệm khác không kém phần ác liệt là vào cuối năm 1968. Đoàn xe chở tên lửa của ta đang bí mật tiến vào miền Nam trong đêm tối. Khi vừa đến phà Gianh, máy bay địch bất ngờ xuất hiện, bắn hai quả pháo sáng chói lòa cả khúc sông. Chúng đã phát hiện ra đoàn xe và bắt đầu bắn rốc két như trút đạn. Đoàn xe đang trên phà bỗng khựng lại. Tôi lập tức nhảy lên chiếc xe đầu tiên, sờ vào người chiến sĩ lái xe và nhận ra anh ấy đã không còn thở. Không chút chần chừ, tôi thay thế anh lái xe qua bờ Nam. Dù địch vẫn không ngừng truy kích, nhưng may mắn thay, tôi đã đưa xe qua sông an toàn. Tưởng chừng đã yên ổn, thì bất ngờ một chiếc xe khác đột ngột tắt máy, không thể khởi động lại được, trong khi máy bay địch vẫn lượn lờ truy lùng. Tôi lao đến, dồn hết sức lực quay tay khởi động động cơ để chiếc xe có thể tiếp tục hành trình trong đêm. Lại thêm một đêm đối mặt với sinh tử đầy ác liệt nữa trôi qua.”

Với những đóng góp và thành tích xuất sắc, cụ Võ Xuân Khuể đã vinh dự được Đảng và Nhà nước trao tặng danh hiệu cao quý Anh hùng Lao động. Khi được hỏi về cảm nghĩ của mình trong hiện tại, cụ Khuể bộc bạch: “Cả cuộc đời tôi, từ khi bắt đầu công tác cho đến lúc về hưu, đều dành trọn tâm huyết và nỗ lực hết mình. Trải qua những năm tháng chiến tranh khốc liệt mà vẫn còn được sống sót đã là một may mắn lớn lao. Nay được sống quây quần, vui vầy bên vợ con, cháu chắt là niềm hạnh phúc vô bờ, tôi không còn mong cầu gì hơn. Nếu trời còn ban cho sức khỏe để sống lâu hơn cùng gia đình thì càng là điều đáng mừng. Tôi vẫn thường căn dặn con cháu phải biết yêu lao động, trân trọng tình nghĩa, và làm bất cứ việc gì cũng phải luôn ghi nhớ đạo lý, tình người. Còn với quê hương, tôi chỉ mong cầu xứ sở ngày càng đổi mới, phát triển đi lên, mọi người đều được ấm no, hạnh phúc – thế là đã mãn nguyện lắm rồi.”

Dòng sông Gianh vẫn miệt mài chảy, và những làn gió từ sông vẫn lồng lộng thổi, như vọng về âm hưởng một thời kỳ hào hùng, bi tráng vẫn còn vẹn nguyên trong ký ức…  

  Phạm Xuân Dũng