2026: Năm bản lề chuyển đổi số Tòa án điện tử

3

Ngành Tòa án đang đẩy mạnh chuyển đổi số theo định hướng của Nghị quyết 57-NQ/TW coi đây là đột phá chiến lược, với mục tiêu hoàn thành Tòa án điện tử hiện đại, minh bạch trên toàn hệ thống vào năm 2027. Năm 2026 là giai đoạn bản lề, trọng tâm là số hóa tối thiểu 80% quy trình nghiệp vụ cốt lõi, 100% hồ sơ vụ án đủ điều kiện, mở rộng phiên tòa trực tuyến và các dịch vụ tư pháp công trực tuyến. Chánh án TANDTC Nguyễn Văn Quảng nhấn mạnh chuyển đổi số là nhiệm vụ chính trị trọng tâm, bắt buộc và là phương thức quản trị mới, đòi hỏi triển khai quyết liệt, đồng bộ theo nguyên tắc "6 rõ". Đặc biệt, ngành đã ứng dụng "Trợ lý ảo" cho thẩm phán và sẽ chính thức đưa Trí tuệ nhân tạo (AI) vào nghiên cứu, xét xử vụ án từ năm 2026, điển hình là tại TAND TP.HCM. Việc triển khai AI được khẳng định không thay thế thẩm phán mà tập trung phát triển mô hình "AI chủ quyền trong hoạt động tư pháp", do ngành làm chủ để đảm bảo đúng định hướng, pháp luật và lợi ích quốc gia.

Nghị quyết số 57-NQ/TW của Bộ Chính trị đã khẳng định vị thế của chuyển đổi số như một đột phá chiến lược then chốt, mở ra kỷ nguyên phát triển mới cho quốc gia.

Ngành Tòa án đang kiên định theo đuổi mục tiêu xây dựng một nền tư pháp hiện đại, minh bạch, lấy công nghệ số làm nền tảng. Lộ trình chiến lược đặt ra là đến năm 2027 sẽ hoàn tất triển khai Tòa án điện tử trên toàn hệ thống, với năm 2026 được xem là giai đoạn bản lề quyết định.

Gia tốc Chuyển đổi số

Nhằm hiện thực hóa các mục tiêu đã đề ra, việc gia tốc chuyển đổi số được xác định là nhiệm vụ trọng tâm, mang tính chiến lược dài hạn trong năm 2026 của ngành Tòa án. Trọng tâm là kiến tạo một nền tư pháp tiên tiến, minh bạch, vận hành dựa trên công nghệ số, thông qua việc tập trung xây dựng, hoàn thiện hạ tầng kỹ thuật số, nền tảng số và dữ liệu số theo tiêu chí đồng bộ, hiện đại và bảo mật cao.

Hình ảnh trực tuyến một phiên tòa hình sự tại Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội.
Phiên tòa hình sự trực tuyến đang diễn ra tại Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội.

Theo lộ trình đã định, ngành phấn đấu đạt 100% các Tòa án nhân dân có đủ năng lực tổ chức hội nghị và phiên tòa xét xử theo hình thức trực tuyến. Mục tiêu là tối thiểu 80% quy trình nghiệp vụ cốt lõi như tiếp nhận đơn, phân công, xét xử, ban hành bản án và lưu trữ sẽ được số hóa, vận hành trên nền tảng quản lý án toàn trình và hệ thống tố tụng điện tử. Đồng thời, 100% hồ sơ vụ án đủ điều kiện sẽ được số hóa hoàn toàn và quản lý tập trung trên hệ thống hồ sơ điện tử; toàn bộ bản án, quyết định thuộc diện công khai sẽ được đăng tải kịp thời trên Cổng thông tin điện tử và lưu trữ an toàn tại Kho dữ liệu chuyên biệt của Tòa án. Các dịch vụ tư pháp công trực tuyến, bao gồm nộp đơn, tài liệu, chứng cứ điện tử, tống đạt điện tử, nộp tạm ứng án phí, lệ phí và cấp sao bản án, cũng sẽ tiếp tục được mở rộng và chuẩn hóa trên phạm vi toàn hệ thống.

Ông Nguyễn Văn Quảng, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, nhấn mạnh rằng chuyển đổi số không chỉ là yếu tố then chốt trong công cuộc cải cách tư pháp và hiện đại hóa quản trị công, mà còn là một nhiệm vụ chính trị trọng tâm, mang tính bắt buộc. Đây không thuần túy là yêu cầu về mặt kỹ thuật, mà là một phương thức quản trị hoàn toàn mới. Chánh án yêu cầu quá trình triển khai chuyển đổi số phải được thực hiện quyết liệt, đồng bộ, có trọng tâm, trọng điểm và tuân thủ nghiêm ngặt nguyên tắc “6 rõ”: Rõ người, rõ việc, rõ thời gian, rõ kết quả, rõ trách nhiệm và rõ thẩm quyền. Tuyệt đối tránh tình trạng khoán trắng, hình thức, đùn đẩy hay né tránh trách nhiệm.

Từ năm 2022, phần mềm “Trợ lý ảo” dành cho thẩm phán đã đi vào hoạt động, cho phép tra cứu tức thì các văn bản pháp luật, án lệ và các bản án có tình huống tương tự. Công cụ này đóng vai trò quan trọng trong việc hỗ trợ thẩm phán đảm bảo tính nhất quán khi áp dụng pháp luật. Nhiều thẩm phán xem “Trợ lý ảo” như một “thư viện sống” động, giúp họ tiếp cận thông tin, tương tác và trao đổi trực tuyến với đồng nghiệp trên phạm vi toàn quốc, từ đó nâng cao hiệu quả công tác xét xử. Trên bình diện địa phương, Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh cùng một số đơn vị khác đã nổi lên như những điển hình sáng tạo trong việc ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI) vào hoạt động tòa án.

Trong giai đoạn mới của lộ trình chuyển đổi số nhằm kiến tạo Tòa án điện tử, nhiều sáng kiến trọng yếu đang được triển khai quyết liệt. Đó là việc xây dựng cơ sở dữ liệu tập trung, tích hợp chữ ký số, quản lý vụ án thông qua phần mềm dùng chung, mở rộng các dịch vụ công trực tuyến và phát triển Ứng dụng Trợ lý ảo Tòa án để hỗ trợ hiệu quả công tác xét xử. Đặc biệt, vào năm 2026, Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh sẽ chính thức đưa trí tuệ nhân tạo (AI) vào ứng dụng trong quá trình nghiên cứu và xét xử các vụ án trên địa bàn. Theo bà Nguyễn Thị Thùy Dung, Phó Chánh án Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, động thái này được kỳ vọng sẽ tạo ra một bước chuyển mình mang tính đột phá trong hiện đại hóa tư pháp, góp phần rút ngắn đáng kể thời gian xử lý hồ sơ và nâng cao tính minh bạch cho từng quyết định.

Ông Nguyễn Biên Thùy, Phó Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, đánh giá rằng việc tiếp cận, ứng dụng và làm chủ công nghệ AI không chỉ là một yêu cầu tất yếu của quá trình chuyển đổi số, mà còn là yếu tố căn bản để đổi mới phương thức quản trị, tổ chức hoạt động và nâng cao chất lượng thực thi quyền tư pháp. Tuy nhiên, Phó Chánh án cũng khẳng định rõ ràng rằng AI sẽ không thay thế vai trò của thẩm phán hay con người trong hoạt động xét xử. Trí tuệ nhân tạo, dù là xu thế tất yếu, phải được triển khai đúng định hướng, thẩm quyền và chuẩn mực, với con người làm trung tâm, pháp luật là chuẩn mực và lợi ích của nhân dân là mục tiêu tối thượng.

Nghị quyết số 57-NQ/TW của Bộ Chính trị đã định hướng xuyên suốt rằng phát triển khoa học công nghệ và chuyển đổi số phải được gắn chặt với chủ quyền quốc gia, an ninh dữ liệu, lợi ích công cộng và vai trò chủ thể của Nhà nước. Để cụ thể hóa tinh thần này, ông Nguyễn Biên Thùy cho biết ngành Tòa án đã xây dựng khái niệm “AI chủ quyền trong hoạt động tư pháp”. Đây là mô hình trí tuệ nhân tạo do chính ngành Tòa án chủ động định hướng, làm chủ và vận hành trên kho dữ liệu tư pháp của mình, nhằm phục vụ đúng chức năng, nhiệm vụ được giao, đồng thời tuân thủ nghiêm ngặt các nguyên tắc pháp quyền, đạo đức tư pháp và yêu cầu bảo vệ dữ liệu.

Theo NDĐT