Về thời bao cấp: Ký ức tuổi thơ, một thời để nhớ
Bài báo hồi ức về giai đoạn bao cấp (1975-1986) thông qua ký ức tuổi thơ của tác giả, đặc biệt là hình ảnh tấm "phiếu vải" quý giá. Phiếu vải không chỉ là phương tiện mua sắm tối thiểu mà còn là một loại tài sản có giá trị trao đổi đối với các gia đình nông dân nghèo. Tác giả kể lại kỷ niệm làm mất tấm phiếu vải 4m, thể hiện nỗi sợ hãi và giá trị to lớn của nó trong thời kỳ khó khăn. Từ ký ức về phiếu vải, bài viết mở rộng sang những "nghề cũ vang bóng một thời" như "lộn cổ áo sơ mi", "bơm mực bút bi" hay "dán vá áo mưa", những nghề nghiệp ra đời từ sự thiếu thốn và khéo léo của người dân. Công cuộc Đổi mới năm 1986 đã chấm dứt giai đoạn gian khó ấy, đưa đất nước phát triển và khiến những nghề cũ dần mai một, song vẫn in đậm trong ký ức nhiều thế hệ.
QTO – Giai đoạn hậu 1975, tuổi thơ tôi gắn liền hơn một thập kỷ với thời bao cấp, kéo dài cho đến cột mốc Đổi mới năm 1986. Dù đôi khi những ký ức về thời kỳ này lắng đọng, chúng chưa bao giờ phai mờ, mà âm thầm ngự trị trong một góc sâu thẳm của tâm trí. Bất chợt, một câu chuyện nhỏ cũng đủ sức khơi dậy toàn bộ dòng chảy cảm xúc, từ niềm vui, sự gắn bó đến nỗi xót xa vô hạn.
Phiếu Vải – Dấu Ấn Khó Phai Của Một Tuổi Thơ Đầy Sóng Gió
Giữa nhịp sống hối hả hiện đại, khi chứng kiến những phiên livestream thời trang trực tuyến sôi động, với âm thanh ‘chốt đơn’ và mã số tài khoản liên tục vang lên, tôi lại bất giác hoài niệm về tấm phiếu vải – biểu tượng gắn liền với một phần ký ức tuổi thơ không thể nào quên.
Trong bối cảnh bao cấp, hệ thống phiếu phân phối có sự khác biệt rõ rệt giữa khu vực thành thị và nông thôn, cũng như giữa các đối tượng công nhân, viên chức và nông dân. Nổi bật trong số đó, phiếu vải được xem như một ‘bảo bối’ vô cùng quý giá.
Trong giai đoạn 1975-1980, các hộ nông dân, bao gồm gia đình tôi, được phân phối trung bình 4 mét vải cho mỗi nhân khẩu hàng năm. Lượng vải này tuy chỉ đủ đáp ứng nhu cầu tối thiểu, nhưng tấm phiếu vải 4 mét ấy lại mang giá trị vượt xa công năng mua sắm thông thường, trở thành một loại tài sản có giá trị trao đổi. Gia đình tôi sống gần chợ, và vào đầu năm, nhiều hộ dân sau khi nhận phiếu vải thường chỉ giữ lại 1-2 phiếu để may mặc, số còn lại được bán lại cho các tiểu thương tại chợ.
Việc bán phiếu vải là giải pháp để nhiều gia đình có thêm chi phí mua thuốc men, sách vở cho con cái, hoặc trang trải những vật dụng thiết yếu khác trong nhà. Gia đình tôi cũng không ngoại lệ, thường chỉ giữ lại 1-2 phiếu để may quần áo cho anh em tôi vào dịp năm học mới, còn lại đều được bán đi. Đặc điểm của phiếu vải thời đó là được chia thành các ô nhỏ với kích thước 20-50cm. Khi mua vải, người bán sẽ cắt các ô tương ứng để đạt đủ tổng chiều dài mong muốn. Chẳng hạn, để mua 1,2m vải từ tấm phiếu 4m, người ta sẽ cắt một ô 20cm và hai ô 50cm, những lần mua sau sẽ tiếp tục cắt cho đến khi phiếu hết giá trị.
![]() |
| Phiếu vải thời bao cấp – Ảnh: L.Đ.D |
Tôi nhớ rõ vào đầu năm học 1978-1979, mẹ đã trao tôi tấm phiếu vải nguyên vẹn 4m, dặn dò đến cửa hàng bách hóa để mua vải may áo cho năm học mới. Trong niềm hân hoan, tôi cẩn thận nhét phiếu vào túi quần rồi hăm hở chạy tới cửa hàng. Thời điểm đầu năm học, khi vải mới về, các gia đình đổ xô chen chúc xếp hàng mua sắm. Sau một hồi chờ đợi mệt mỏi, đến lượt mình, tôi đưa tay vào túi thì phát hiện tấm phiếu đã không còn. Một tiếng thét vô thức bật ra, tôi quỵ xuống tìm kiếm trong vô vọng. Dù đã cẩn thận sờ phiếu trong túi quần khi xếp hàng, giờ đây nó đã biến mất. Rơi mất hay bị móc túi? Trong cơn hoảng loạn tột độ, điều tôi lo sợ nhất là trận đòn roi từ cha mình – người vốn nghiêm khắc. Dù không ngán đòn roi, nhưng mất đi 4m vải là mất đi cả một ‘gia tài’ lớn đối với gia đình nông dân nghèo của chúng tôi. Liệu anh em tôi sẽ có gì để mặc cho cả năm học sắp tới? Tôi chạy ra bờ sông, tìm một khóm tre rậm rạp và ẩn mình. Thấy tôi đi mua vải mãi đến tối chưa về, mẹ hớt hải đi tìm, cả nhà cũng túa ra khắp nơi. Đứa bé 12 tuổi ngồi một mình bên bờ sông, khi màn đêm buông xuống, nỗi sợ ma đã khiến tôi mò mẫm quay về nhà. Dĩ nhiên, ở cái xóm chợ nhỏ bé ngày ấy, câu chuyện tôi làm mất tấm phiếu vải đã gây xôn xao. Tuy nhiên, điều kỳ lạ là lần đó cha tôi không hề đánh mắng, ông chỉ im lặng.
Nửa thế kỷ đã trôi qua, nhưng giữa vô vàn ký ức tươi đẹp của tuổi hoa niên, hình ảnh tấm phiếu vải thất lạc năm xưa vẫn hiện hữu một cách rõ nét. Kỷ niệm buồn ấy nay như một chiếc neo, ghì chặt trong tôi những tháng năm xa xôi của một thời khốn khó, một ‘thời bao cấp’ đầy ắp những câu chuyện chưa kể.
Những Nghề Cũ Vang Bóng Một Thời…
Khi dòng ký ức về tấm phiếu vải bị mất ùa về, kéo theo đó là cả một vùng ký ức về những nghề nghiệp ‘vang bóng một thời’. Nhiều nghề nay đã không còn tồn tại, chỉ còn đọng lại trong văn hóa truyền khẩu. Chắc hẳn những ai từng trải qua giai đoạn đó đều chưa quên những nghề tưởng chừng kỳ lạ mà thế hệ trẻ ngày nay khó lòng hình dung được: “Gia công quy gai xốp/Lộn cổ áo sơ mi/Dán vá ni lông rách/Bơm mực bút chì bi…”
![]() |
| Những nghề nghiệp một thời – Ảnh: L.Đ.D |
Nghề gia công ‘quy, gai xốp’ chuyên về đóng gói hộp giấy cho các loại bánh quy, bánh gai xốp, thịnh hành ở các đô thị phía Bắc – nơi tập trung nhiều xí nghiệp bánh kẹo thời bao cấp. Trong khi đó, nghề ‘lộn cổ áo sơ mi’ lại phổ biến rộng khắp hơn, len lỏi vào từng hang cùng ngõ hẻm từ thành phố đến làng quê trong những năm cuối thập niên 70-80. Như đã đề cập, do phiếu vải thường được bán đi để trang trải các chi phí khác, việc tái sử dụng và làm mới áo sơ mi cũ trở thành một nhu cầu thiết yếu. Phần cổ áo sơ mi, do thường xuyên tiếp xúc, là nơi dễ bị sờn rách nhất.
Với tinh thần ‘cái khó ló cái khôn’, để biến chiếc áo sơ mi cũ trở nên ‘tưởng như mới’ và kéo dài thời gian sử dụng, những người thợ may đã khéo léo tháo rời đường chỉ nối cổ áo với thân áo, sau đó lật phần cổ áo từ phía sau ra phía trước. Bằng cách này, phần vải bị sờn rách sẽ được giấu kín, chiếc áo sơ mi nhờ đó trông tươm tất hơn, chỉ còn thân áo là đôi chút cũ kỹ.
Gia đình tôi sống gần xóm chợ, chỉ vài chục mét là đến tổ hợp tác thợ may. Trong suốt ký ức tuổi thơ, hình ảnh những người thợ may của tổ hợp tác tỉ mỉ ‘lộn cổ áo’ cho những khách hàng lao động vất vả dường như còn in đậm hơn cả việc họ may những bộ đồ mới. Một miền ký ức da diết, chất chứa biết bao tình thương và hoài niệm, lại hiện về.
Đối với những người nghèo khó, để có một chiếc áo ‘mới’ đón Tết, họ thậm chí phải dành dụm chiếc áo sơ mi cũ đã sờn cổ, đợi đến cận Tết mới mang ra thợ để ‘tân trang’ bằng kỹ thuật ‘lộn cổ’ đặc biệt.
Bên cạnh nghề ‘lộn cổ áo sơ mi’ đã lùi vào dĩ vãng, không thể không nhắc đến nghề ‘bơm mực bút bi’. Vào thời điểm ấy, bút bi được xếp vào hàng văn hóa phẩm cao cấp. Trong điều kiện bình thường, một chiếc bút bi hết mực sẽ bị loại bỏ. Tuy nhiên, tại Việt Nam những năm sau 1975, nghèo khó là một nỗi ám ảnh thường trực, buộc người dân phải ‘thắt lưng buộc bụng’. Do đó, việc tái sử dụng một cây bút bi đã hết mực không còn là điều bất thường.
Ruột bút bi sẽ được súc rửa cẩn thận trước khi bơm mực vào. Mực bút bi thường được sản xuất từ các xưởng của người Hoa, vốn nổi tiếng nhạy bén trong việc đáp ứng nhu cầu thị trường. Dụng cụ bơm mực rất đơn giản, chỉ cần một chiếc bơm kim tiêm chứa đầy mực, sau đó từ từ phun vào thân ngòi bút. Một trong những bộ phận khó sản xuất nhất của bút bi là viên bi ở đầu ngòi. Để khắc phục vấn đề bi mòn, người ta thường nhờ các thủy thủ tàu viễn dương mang về vài kilôgam bi, đủ để sửa chữa hàng vạn chiếc bút bi.
Tiếp nối sau nghề bơm mực bút bi là nghề dán vá áo mưa – một thuật ngữ chung cho nhiều công việc liên quan đến việc sử dụng nhiệt để làm nóng và liên kết các phân tử nilon, cao su. Khi áo mưa bị rách, người thợ sẽ cắt một miếng nilon khác đủ lớn để phủ kín vết rách. Họ dùng một que sắt dẹt hơ nóng trên bếp than đến nhiệt độ phù hợp, sau đó miết que sắt lên miếng nilon, tạo đủ nhiệt để hai lớp vật liệu dính chặt vào nhau. Kỹ thuật tương tự cũng được áp dụng để dán dép nhựa, tuy nhiên, đòi hỏi sự khéo léo và kỹ thuật cao hơn.
Không thể phủ nhận, công cuộc Đổi mới năm 1986 đã thổi một luồng sinh khí mới, kích hoạt năng lực sản xuất và tạo nên những đột phá kinh tế ngoạn mục. Những gương mặt từng hằn sâu nỗi lo cơm áo nay đã phần nào nhẹ nhõm hơn; những chiếc áo sơ mi không còn phải “lộn cổ”, khi vải vóc từ khắp các thị trường quốc tế đã được mở cửa nhập khẩu. Các mặt hàng nông sản như cà phê, đậu lạc, hạt tiêu của người nông dân giờ đây theo những chuyến tàu viễn dương vươn ra thế giới, đồng thời, những chiếc quần bò Levi’s hay áo phông cũng theo đó mà trở về. Chiếc tủ gỗ cũ kỹ dưới gốc sấu già trên đường phố Hà Nội với tấm biển ‘bơm mực bút bi’ buồn bã dần nhường chỗ cho sự xuất hiện trở lại của những cây bút bi hiệu ‘BIC’ sáng loáng.
“Về sau và nhiều năm sau nữa…”, như lời một bản tình ca, nhưng sâu xa hơn, đó còn là nỗi niềm chất chứa của một thời gian khó. Chúng ta biết ơn những tháng ngày ấy, biết ơn đất nước đã vượt qua giai đoạn gian truân ấy với sự bình tâm và khí phách kiêu hãnh, để vươn mình tiến về phía trước, kiến tạo nên vị thế của ngày hôm nay.
Những nghề nghiệp xưa cũ tuy đã mai một theo dòng thời gian, nhưng chúng mãi là một phần không thể thiếu của lịch sử, khắc sâu và đong đầy trong ký ức của nhiều thế hệ người Việt…
Lê Đức Dục






