Tưởng nhớ Thầy Nguyễn Xuân Hòa: Một Huyền thoại Sống mãi trong Tim Trò

4

Nhà giáo Ưu tú Nguyễn Xuân Hòa (sinh năm 1932 tại Quảng Trị) có cuộc đời đầy thăng trầm, từ việc tham gia cách mạng từ năm 15 tuổi trong hoàn cảnh gia đình nghèo khó. Sau khi tập kết ra Bắc, ông được đào tạo tại Đại học Tổng hợp Hà Nội và sau đại học ở Bắc Kinh, rồi trở thành giảng viên Ngữ văn. Sau năm 1975, ông chuyển vào công tác tại Đại học Tổng hợp Huế, giữ nhiều chức vụ quan trọng như Chủ nhiệm Khoa Ngữ văn và góp phần xây dựng các ngành khoa học xã hội và nhân văn. Dù cuộc sống cá nhân gặp nhiều thử thách, ông luôn là biểu tượng của sự tận tụy, mẫn cán, hiền hậu và khiêm tốn, để lại hình ảnh một người thầy đức độ, tận tâm trong sự nghiệp giáo dục.

QTO – “Thưa các em! Các em biết không, tôi cũng từng là bộ đội, mà còn tham gia từ rất sớm nữa cơ!” – lời tâm sự mộc mạc về thuở thiếu thời của cậu bé 15 tuổi đã tháo quần bà ba may thành quân phục để theo chân cách mạng đã khắc sâu vào ký ức, làm nên chân dung Nhà giáo Ưu tú Nguyễn Xuân Hòa. Cuộc đời ông là bản hòa ca của kháng chiến, giảng đường và sự cống hiến thầm lặng, để lại hình ảnh một người thầy đức độ, tận tâm và giàu nhân cách.

Nhà giáo Ưu tú Nguyễn Xuân Hòa, tuổi Nhâm Thân, sinh năm 1932, tại một làng quê nghèo khó bên dòng sông, thuộc xã Cam Hiếu, huyện Cam Lộ cũ (nay là xã Hiếu Giang, tỉnh Quảng Trị). Hoàn cảnh gia đình cơ cực đã khiến ông sớm phải gánh vác công việc đồng áng nặng nhọc từ thuở ấu thơ, trải qua nhiều gian truân vất vả. Năm 15 tuổi (1947), ông đã gia nhập quân đội cách mạng.

Năm 1954, theo đoàn tập kết ra Bắc, ông được tạo điều kiện học vượt nhiều cấp phổ thông và hai năm sau đó trở thành sinh viên khóa I, Khoa Ngữ văn, Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội. Tốt nghiệp năm 1959, ông được giữ lại khoa làm giảng viên Bộ môn Văn học Trung Quốc và tiếp tục được cử đi đào tạo sau đại học tại Bắc Kinh.

Chân dung Nhà giáo Ưu tú Nguyễn Xuân Hòa -Ảnh: P.P.P
Chân dung Nhà giáo Ưu tú Nguyễn Xuân Hòa – Ảnh: P.P.P

Sau khi đất nước thống nhất, khi Trường Đại học Tổng hợp Huế được thành lập năm 1976, trên nền tảng sáp nhập Đại học Văn khoa và Đại học Khoa học của Viện Đại học Huế cũ, ông được điều động vào công tác, góp sức xây dựng các ngành khoa học xã hội và nhân văn tại đây.

Năm 1977, ông được bổ nhiệm làm Thư ký Công đoàn (sau đổi thành Chủ tịch Công đoàn) Khoa Văn Sử. Tiếp đó, ông giữ chức Phó Chủ nhiệm Khoa Văn Sử (năm 1978), rồi Chủ nhiệm Khoa Ngữ văn (năm 1981). Chức vụ cuối cùng của ông trước khi về hưu là Trưởng Bộ môn Lý luận Văn học – Văn học nước ngoài, đồng thời kiêm Bí thư Chi bộ khoa.

Dù có quá trình cống hiến bền bỉ cho ngành giáo dục đại học từ Bắc chí Nam, ông không mang khí chất của người tiên phong hay nhân tố đột phá. Thay vào đó, ông là biểu tượng của sự tận tụy trong vai trò thừa hành, một công chức mẫn cán, hoàn thành xuất sắc mọi phận sự được giao ở bất cứ cương vị nào.

Dấu ấn đầu tiên của tôi về ông vẫn vẹn nguyên, không hề phai mờ. Thuở ấy, tôi là một cán bộ trẻ vừa về công tác, được giao trọng trách Bí thư Liên Chi đoàn khoa. Nhân dịp Liên Chi đoàn tổ chức buổi tọa đàm kỷ niệm ngày Quân đội Nhân dân Việt Nam 22/12, chúng tôi đã trân trọng mời ông tham dự với vai trò Chủ nhiệm khoa.

Nhà giáo Ưu tú Nguyễn Xuân Hòa (thứ 2 từ trái sang) chụp ảnh lưu niệm cùng các đồng nghiệp - Ảnh: P.P.P
Nhà giáo Ưu tú Nguyễn Xuân Hòa (thứ 2 từ trái sang) chụp ảnh lưu niệm cùng các đồng nghiệp – Ảnh: P.P.P

Thời đó, chưa có tổ chức Hội Cựu chiến binh chính thức, nên buổi gặp mặt ấy là dịp để ôn lại truyền thống vẻ vang, lắng nghe những nhân chứng đã trải qua hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ chia sẻ hồi ức, và kết thúc bằng lời phát biểu của vị Chủ nhiệm khoa dành cho anh em đồng nghiệp.

Bất ngờ thay, ông cũng là một cựu chiến binh! Trong lời tâm sự, ông chia sẻ: “Thưa các em! Các em biết không, tôi cũng từng là bộ đội, mà còn tham gia từ rất sớm nữa cơ! Là thằng bé sinh ra ở làng quê nghèo, nhà lại đông anh em, từ nhỏ tôi đã phải tham gia công việc đồng áng, từ việc nhẹ đến cả việc nặng như cày, cuốc…

Năm đó, tôi chưa tròn 15 tuổi, bộ đội hành quân qua làng, có dừng lại vài bữa, khi các anh rút đi, tôi trốn nhà chạy theo. Các anh không cho, cương quyết đuổi lui, tôi vẫn cứ lẻo đẻo chạy theo, cuối cùng các anh cũng phải chấp nhận. Để theo các anh, tôi lấy cái quần bà ba của tôi, tháo ra xẻ giữa, đơm nút vào cho giống quần bộ đội, còn thắt lưng thì dùng dây chuối…”. 

Hành trình của người thanh niên yêu nước ấy khởi nguồn từ khát vọng thoát ly cuộc sống cơ cực nơi làng quê, chứ chưa hẳn đã là ý thức về lý tưởng vĩ đại. Ông không hề nhắc đến chiến công hiển hách nào, mà chỉ là những gian khổ, hiểm nguy trên chặng đường kháng chiến, trong vai trò người giao liên cho đơn vị. Đó là những tháng ngày thiếu ăn, đói khổ triền miên.

Nhưng cái đói ở đây lại dễ chịu hơn nhiều so với khi ở nhà. Cơn đói được sẻ chia cùng đồng đội, trong tinh thần đồng cam cộng khổ. Cái đói được xoa dịu bởi tình đùm bọc, sẻ chia của bà con nhân dân, những người đồng cảnh ngộ. Đó là cái đói hướng về một ngày mai tươi sáng, không còn mịt mờ, tăm tối như thuở ở quê nhà.

Ông là một con người hiền hậu, khiêm tốn, nhân ái, luôn giữ thái độ nhỏ nhẹ với mọi người. Trong công tác giảng dạy, các hoạt động chuyên môn hay trong các mối quan hệ đời thường, ông đều tránh sự phô trương, ồn ào, lớn tiếng. Tôi còn nhớ những năm đầu khi mới về khoa, chưa có giờ giảng, mỗi tuần tôi phải trực văn phòng bộ môn ba buổi. Tại đó, tôi mang sách vở, tài liệu đến để đọc, viết hoặc soạn bài giảng, giáo trình.

Thời bao cấp, tinh thần “duy thủ độc thư cao” (chỉ lấy việc đọc sách làm trọng) được đề cao, người thầy giáo chủ yếu chuyên tâm vào việc đọc sách và giảng dạy. Thậm chí, việc viết lách cũng gặp nhiều khó khăn do thiếu điều kiện in ấn, xuất bản. Quy định này áp dụng cho mọi cán bộ trẻ mới về khoa chưa kiêm nhiệm công việc khác, và duy trì cho đến khi ông rời cương vị Trưởng khoa.

Nhà giáo Ưu tú Nguyễn Xuân Hòa chụp cùng vợ, hai con gái và cháu ngoại - Ảnh: P.P.P
Nhà giáo Ưu tú Nguyễn Xuân Hòa chụp cùng vợ, hai con gái và cháu ngoại – Ảnh: P.P.P

Nhiều người, trong đó có tôi, đã có chút phản ứng về phương thức quản lý thời gian này. Với một người có căn tính thích dịch chuyển, khao khát tiếp cận và khám phá những điều mới mẻ như tôi, đây thực sự là một sự gò bó lớn! Tuy nhiên, về sau, tôi mới thấu hiểu và biết ơn ông, bởi chính nhờ vậy mà tôi đã có cơ hội đọc nhiều, suy ngẫm sâu sắc và tích lũy kiến thức quý báu trong giai đoạn khởi đầu con đường nghiên cứu và giảng dạy. Đó là một sự đầu tư thời gian cần thiết cho bất kỳ ai dấn thân vào lĩnh vực khoa học xã hội và nhân văn.

Thành công không bao giờ tự nhiên mà đến. Nó chỉ có thể đơm hoa từ nền tảng của sự cần mẫn và niềm đam mê cháy bỏng. Kỳ lạ thay, niềm đam mê cũng không tự nhiên mà hình thành. Chỉ khi thực sự cần mẫn, người ta mới tìm thấy suối nguồn nuôi dưỡng đam mê, như một hệ quả tất yếu của định luật bảo toàn năng lượng tinh thần trong quá trình kiến tạo nhân cách con người.

Trong một dịp tranh luận khoa học, với cái khí chất đặc trưng của người xứ Quảng, đôi khi tôi đã có phần lớn tiếng. Ông, dù là người thầy từng dạy tôi và là cấp trên, không hề lợi dụng uy quyền để lấn át ngay lúc ấy. Thay vào đó, sau cuộc tranh luận, ông đã gặp riêng tôi và nhỏ nhẹ “nhắc nhở”: “Này Phong ơi! Mình không nói sai hay đúng trong vấn đề tranh luận hôm nọ, nhưng mình khuyên Phong phải dè chừng, xem thử tự trong con người mình có tư tưởng “học phiệt” hay không? Tự coi mình cái gì cũng biết là hết sức nguy hiểm…”.

Tôi bừng tỉnh ngộ, lòng tràn đầy hổ thẹn và sự biết ơn sâu sắc, với tất cả niềm tôn kính của một học trò nhỏ trước bậc trưởng bối đã dày dặn kinh nghiệm cuộc đời.

Về phương diện đời tư, cuộc đời ông cũng không mấy suôn sẻ, trải qua hai lần đổ vỡ, để lại không ít tổn thương trong tâm hồn. Cùng với đó, bệnh tật khiến bộ phận phát âm của ông không bình thường, ảnh hưởng đáng kể đến công việc giảng dạy và truyền thụ tri thức. Dáng người hao gầy, nhỏ nhắn, cùng cốt cách hiền lành, ít nói, nhân hậu, ông luôn cam chịu và có phần phục tùng, ít khi đối diện trực tiếp với những thị phi hay sai trái trong cuộc sống thường nhật. Điều này đôi khi vô tình làm thu nhỏ tầm vóc cá nhân, tạo nên một bản mệnh có phần khiêm nhường.

Nhà giáo Ưu tú Nguyễn Đình Thảng, người từng là Phó Chủ nhiệm khoa kiêm Bí thư Chi bộ, đồng thời là trợ thủ đắc lực của ông trong suốt hơn mười năm đảm nhiệm cương vị Chủ nhiệm khoa, đã từng nhận xét rằng: “Tôi thương thầy Hòa, nên cáng đáng nhiều việc mà lẽ ra là của Chủ nhiệm khoa. Thầy ấy hiền quá dễ làm người nghĩ đến sự nhu nhược. Hiền đến mức không có khả năng để hại được ai!”.

Vài năm sau khi nghỉ hưu (1997), nhằm tạo điều kiện cho việc học tập và công tác của các con, ông cùng gia đình đã chuyển ra Hà Nội sinh sống và từ trần tại đây vào năm 2014. Khi hay tin ông mất, tôi cùng các thầy Lê Cảnh Vững, Nguyễn Hồng Dũng (những người giữ các chức vụ Chủ tịch Công đoàn khoa, Bí thư Chi bộ khoa và Trưởng Bộ môn Văn học nước ngoài) đã vội vã lên tàu ra Hà Nội để phúng viếng. Lễ tang được tổ chức tại nhà hỏa táng Bệnh viện Thanh Nhàn, mang một nỗi buồn man mác vì có ít người đến dự.

Nhà giáo Ưu tú Nguyễn Xuân Hòa (ngồi hàng đầu, ngoài cùng bên trái) chụp ảnh lưu niệm cùng các đồng nghiệp - Ảnh: P.P.P
Nhà giáo Ưu tú Nguyễn Xuân Hòa (ngồi hàng đầu, ngoài cùng bên trái) chụp ảnh lưu niệm cùng các đồng nghiệp – Ảnh: P.P.P

Tôi nhớ, ngoài gia đình và thân quyến, tại Hà Nội, có Giáo sư Hoàng Trọng Phiến (bạn học cùng lớp đại học với ông), Nhà giáo và Nhà phê bình văn học tài danh Bùi Việt Thắng (học trò cũ của ông tại Đại học Tổng hợp Hà Nội), cùng cô Trần Đặng Hồng Phương, cựu sinh viên Đại học Tổng hợp Huế, đã đến viếng lễ tang. Điều khiến tôi khá bất ngờ là khi nghe điếu văn, tôi mới hay ông là Thạc sĩ, tốt nghiệp từ Đại học Bắc Kinh năm xưa – một sự thật mà ông luôn kín đáo, ít ai biết đến và cũng hiếm khi được nhắc tới!

Sở dĩ câu chuyện ông theo chân đơn vị bộ đội từ thuở thiếu niên cứ mãi neo đậu trong ký ức tôi, khiến tôi khắc khoải khôn nguôi, là bởi vì tôi cảm thấy như ông đang kể chuyện về chính mình. Bản thân tôi, một đứa trẻ cũng sinh ra ở làng quê nghèo bên sông Thu Bồn, chưa biết chữ đã biết chơi trò chiến tranh, và năm 13 tuổi đã là giao liên cho đơn vị bộ đội địa phương R20 của Quảng Nam thời bấy giờ.

Hóa ra, ông cũng là một phần không thể thiếu trong dòng ký ức cuộc đời tôi. Mỗi khi hồi tưởng về ông, tôi lại nhớ về quãng đời niên thiếu của chính mình. Quảng Nam và Quảng Trị, hai miền quê nghèo khó, từng bị chiến tranh tàn phá không ngừng. Hai làng quê ven sông Thu Bồn và sông Hiếu, tuy cách biệt, nhưng dòng nước của chúng đều cùng đổ về biển cả. Dẫu ngàn trùng cách trở, tôi tin rằng sẽ có lúc hai nguồn nước ấy hội tụ, hòa quyện vào nhau!

Phạm Phú Phong