Quảng Trị đang đẩy mạnh chuyển đổi sang công nghệ tái chế tuần hoàn để biến rác thải thành phân hữu cơ và nhiên liệu đốt công nghiệp, mở ra kỷ nguyên mới trong quản lý chất thải. Điển hình, Nhà máy xử lý rác Trung Thuần đã thành công sản xuất mùn hữu cơ và nhiên liệu RDF, nhưng gặp thách thức về công suất do hạn chế vùng thu gom và thủ tục phê duyệt đơn giá. Tỉnh Quảng Trị đang triển khai các quyết sách đột phá như chiến lược "xử lý kép" (rác mới và rác cũ), quy hoạch nhà máy đốt rác phát điện, và cải tổ quản lý nhằm tối ưu hóa hệ thống. Tuy nhiên, bài viết nhấn mạnh rằng hiệu quả của mọi công nghệ và chính sách đều phụ thuộc lớn vào ý thức và hành động phân loại rác tại nguồn của mỗi người dân, coi đây là yếu tố then chốt cho sự bền vững.
QTO – Công nghệ tái chế tuần hoàn mở ra kỷ nguyên mới, nơi chất thải không còn là gánh nặng mà hóa thành phân hữu cơ, vật liệu xây dựng hay nhiên liệu đốt công nghiệp giá trị. Tuy nhiên, để hệ thống xử lý rác vận hành hiệu quả và bền vững, Quảng Trị cần những quyết sách đột phá nhằm gỡ bỏ triệt để các “điểm nghẽn” còn tồn tại.
>>> Đọc thêm: Kỳ 1 – Những thách thức trong thu gom và xử lý
Chuyển mình mạnh mẽ: Từ bãi tập kết đến chu trình tuần hoàn hiện đại
Tại Nhà máy xử lý rác Trung Thuần, rác thải không còn bị xem là phế phẩm vô giá trị mà đã trở thành nguyên liệu đầu vào thiết yếu cho một quy trình sản xuất được kiểm soát nghiêm ngặt. Ngay khi các phương tiện chuyên dụng đổ chất thải vào khu vực tiếp nhận, toàn bộ lượng rác sẽ được chuyển lên hệ thống băng chuyền phân loại tự động kết hợp thủ công. Tại mắt xích khởi đầu này, rác hữu cơ, rác vô cơ và các loại phế liệu có khả năng tái chế (như nhựa, kim loại, thủy tinh) được bóc tách một cách riêng biệt và chính xác.
![]() ![]() |
| Hệ thống phân loại rác sinh hoạt đầu vào tại Nhà máy xử lý rác Trung Thuần – Ảnh: Quang Ngọc |
Phần rác hữu cơ, chiếm tỷ trọng lớn nhất trong tổng lượng chất thải sinh hoạt, được đưa thẳng vào hệ thống hầm ủ lên men sinh học. Công nghệ lên men vi sinh tiên tiến này đảm bảo các ô chứa nguyên liệu luôn khô thoáng, loại bỏ hoàn toàn tình trạng rỉ nước thải, vốn là vấn đề nan giải tại các bãi chôn lấp truyền thống. Sau giai đoạn phân hủy và qua dây chuyền sàng lọc tạp chất, sản phẩm cuối cùng là nguồn mùn hữu cơ giàu dinh dưỡng, nguyên liệu chất lượng cao để sản xuất phân bón vi sinh, phục vụ nền nông nghiệp sạch.
Đối với rác vô cơ khó phân hủy, chúng sẽ trải qua quy trình sấy khô giảm độ ẩm và khử mùi triệt để, sau đó được đưa vào máy nghiền áp lực cao để băm nhỏ, tạo ra nhiên liệu RDF (Refuse Derived Fuel) có giá trị cao. Loại hạt nhiên liệu này sở hữu nhiệt trị vượt trội, đang được các nhà máy xi măng tin dùng để đốt lò thay thế than cám hóa thạch, không chỉ giúp giảm đáng kể chi phí sản xuất mà còn góp phần tích cực bảo vệ môi trường. Chỉ tính từ ngày 14/3 đến hết tháng 6/2026, nhà máy đã cung cấp hơn 2.250 tấn nhiên liệu RDF cho hai nhà máy xi măng lớn là Sông Gianh và Văn Hóa. Song song đó, hơn 225 tấn mùn hữu cơ cũng đã được sản xuất, sẵn sàng làm nguyên liệu cho ngành phân bón hữu cơ.
Thành công của Nhà máy xử lý rác Trung Thuần là minh chứng rõ ràng cho thấy các doanh nghiệp tư nhân hoàn toàn có khả năng giải quyết triệt để bài toán công nghệ xử lý rác tại địa phương. Tuy nhiên, trăn trở của chủ doanh nghiệp không nằm ở năng lực kỹ thuật, mà ở hiệu suất vận hành thực tế. Mặc dù dây chuyền được thiết kế để xử lý 150 tấn rác mỗi ngày, hiện tại nhà máy mới chỉ tiếp nhận khoảng 100 tấn. Lý do chính là khu vực thu gom còn hạn chế và các thủ tục phê duyệt đơn giá xử lý chính thức của tỉnh chưa hoàn tất, buộc doanh nghiệp phải hoạt động cầm chừng, chưa phát huy tối đa công suất.
Ông Đinh Trung Quỳnh, Giám đốc Công ty TNHH Môi trường Xanh miền Trung, cảnh báo: “Nếu địa phương không quyết liệt chuyển dịch từ phương thức chôn lấp sang công nghệ tái chế tuần hoàn, chỉ trong vòng 5-10 năm tới, cuộc khủng hoảng quỹ đất và ô nhiễm nguồn nước ngầm sẽ trở nên nghiêm trọng và không thể kiểm soát.” Doanh nghiệp đã kiến nghị UBND tỉnh sớm phê duyệt đơn giá và cho phép mở rộng vùng thu gom rác từ các địa phương lân cận về nhà máy để tối ưu hóa công suất, hoặc triển khai dây chuyền xử lý rác ngay tại các bãi chôn lấp.
![]() ![]() |
| Sản phẩm mùn hữu cơ sau giai đoạn sơ chế, tiếp tục được ủ để sản xuất phân hữu cơ – Ảnh: Quang Ngọc |
Đứng trên cương vị đơn vị xử lý cuối cùng, ông Quỳnh cũng đặc biệt nhấn mạnh tầm quan trọng của việc phân loại rác tại nguồn: “Việc người dân phân loại rác tại nhà chỉ thực sự mang lại ý nghĩa nếu khâu thu gom, vận chuyển ngoài đường cũng được tổ chức đồng bộ và chuyên nghiệp. Nếu người dân đã cất công chia rác thành túi hữu cơ, vô cơ riêng biệt, nhưng những chiếc xe thu gom lại đổ chung tất cả vào một thùng thì mọi nỗ lực của nhà máy tái chế sẽ trở nên vô nghĩa.”
Chuyển đổi chiến lược quản lý hệ thống chất thải
Theo định hướng mới nhất từ Sở Nông nghiệp và Môi trường, để giải quyết áp lực phát sinh khoảng 900 tấn rác mỗi ngày, tỉnh Quảng Trị sẽ áp dụng giải pháp “xử lý kép”: kết hợp xử lý đồng thời rác mới và đào bóc rác cũ tại các bãi đã đầy để đưa vào dây chuyền tái chế. Phương án bóc tách này không chỉ giúp giải phóng triệt để quỹ đất sạch mà còn nâng tổng công suất xử lý toàn tỉnh lên 1.200 tấn/ngày, giảm tải đáng kể gánh nặng cho ngân sách địa phương.
Hàng loạt giải pháp hạ tầng cụ thể đang được các ngành chức năng khẩn trương triển khai. Đơn cử, toàn bộ rác thải từ khu vực Lệ Thủy sau khi đóng cửa bãi Trường Thủy đã được điều tiết về Đồng Hới để xử lý. Tại Đông Hà, các ô chôn lấp tạm thời đang được nhanh chóng hoàn thiện nhằm tiếp nhận lượng rác nội đô trong thời gian chờ nhà máy đốt rác phát điện quy mô lớn đi vào hoạt động.
Tại khu vực Quảng Trạch, phương án bóc tách bãi rác chôn lấp cũ để doanh nghiệp thu hồi phế liệu và sản xuất mùn hữu cơ cũng đang được xem xét áp dụng. Về chiến lược dài hạn, Quảng Trị đặt mục tiêu đến năm 2027 sẽ hoàn thành dự án Nhà máy đốt rác phát điện công suất 600 tấn/ngày tại khu vực Đồng Hới, với tổng mức đầu tư dự kiến từ 1.500-2.000 tỷ đồng. Đồng thời, quy hoạch các khu xử lý chất thải hiện đại tại hai trục chiến lược phía Bắc và phía Nam cũng được định hình rõ nét, nhằm đón đầu tốc độ đô thị hóa nhanh chóng.
Cùng với cuộc cách mạng về hạ tầng công nghệ, mô hình quản lý nhà nước cũng đang trải qua một sự thay đổi mang tính lịch sử. Việc giải thể các ban quản lý dịch vụ công ích cấp huyện để chuyển giao toàn bộ đầu mối về Trung tâm Nước sạch và Vệ sinh môi trường nông thôn quản lý, vận hành thống nhất được kỳ vọng sẽ chấm dứt tình trạng manh mún, tạo ra một mạch chảy thông suốt, chuyên nghiệp cho toàn bộ hành trình của rác thải trên quy mô toàn tỉnh.
![]() ![]() |
| Nhà máy xử lý rác Trung Thuần đã cung cấp hơn 2.250 tấn nhiên liệu RDF cho 2 nhà máy xi măng: Sông Gianh và Văn Hóa – Ảnh: Quang Ngọc |
Tuy nhiên, dù công nghệ có tiên tiến đến đâu, mô hình quản lý có tối ưu thế nào, thì mắt xích đầu tiên và quan trọng nhất vẫn nằm ở ngưỡng cửa của mỗi gia đình. Một túi rác được người dân phân loại đúng ngay từ khi bỏ vào thùng chứa tại nhà sẽ quyết định đến 80% hiệu quả của toàn bộ chuỗi xử lý tuần hoàn phía sau. Từ chiếc xe đẩy của người công nhân thu gom, băng chuyền phân tách, hầm ủ sinh học, cho đến lò đốt nhiên liệu RDF của nhà máy xi măng… tất cả đều vận hành dựa trên hành động nhỏ bé nhưng có sức ảnh hưởng to lớn ấy của mỗi người dân.
Vì lẽ đó, câu hỏi “Rác đi về đâu?” suy cho cùng không phải là trách nhiệm riêng của ngành Môi trường hay của các doanh nghiệp xử lý chất thải. Đó là câu chuyện chung, là trách nhiệm của mỗi chúng ta. Sau khi rời khỏi tay mỗi người, túi rác đó sẽ trở thành gánh nặng độc hại đè lên lòng đất, hay sẽ hóa thân thành năng lượng tái tạo, thành điện năng thắp sáng, thành màu mỡ nuôi dưỡng ruộng đồng? Con đường ấy hoàn toàn do cách chúng ta ứng xử với rác quyết định, bắt đầu ngay từ hôm nay.
Quang Ngọc















