Bỏ qua, tới nội dung chính
TRUYỀN THỐNG VĂN HÓA

Hé lộ cuộc sống Kẻ Đòi: Nơi ký ức và lãng quên đan xen trong từng lời ca

Biên Tập ViênĐăng:

Làng Kẻ Đòi (nay là thôn Đông Duyệt 1, xã Đông Trạch), còn được gọi là "Xóm Hát", là một vùng đất độc đáo nơi nghệ thuật tuồng bội và dân ca đã gắn bó sâu sắc với đời sống cư dân qua nhiều thế hệ. Những tiếng hát này không chỉ là giải trí mà còn là mạch nguồn tinh thần, là biểu tượng của tình người và sự kiên cường vượt qua chiến tranh, đói nghèo. Dù xã hội hiện đại có nhiều thay đổi, người dân Kẻ Đòi vẫn giữ vững tình yêu với nghệ thuật truyền thống, với nhiều gia đình theo nghiệp ca hát và Câu lạc bộ đàn hát dân ca xã Đông Trạch tích cực truyền dạy cho thế hệ trẻ. Tuy nhiên, việc bảo tồn "hồn cốt" và những kỹ năng biểu diễn tinh túy của tuồng cổ đang đối mặt với thách thức khi các nghệ nhân cao tuổi dần vắng bóng, đặt ra nỗi lo về sự đứt gãy di sản văn hóa và bản sắc quê hương.

QTO – Một miền đất nơi tuồng bội và dân ca đã hòa quyện vào tâm hồn bao thế hệ cư dân. Nơi ấy, tiếng trống chầu từng ngân vang dưới ánh trăng, và những giai điệu dân gian đã đồng hành cùng người dân qua bao thăng trầm chiến tranh, đói nghèo để rồi lắng đọng thành linh hồn của làng. Trong bối cảnh nhiều giá trị truyền thống đang dần phai nhạt trước làn sóng hiện đại, làng hát Kẻ Đòi (nay là thôn Đông Duyệt 1, xã Đông Trạch) vẫn sừng sững như một biểu tượng ký ức văn hóa độc đáo của quê hương.

Dấu ấn văn hóa trên cố hương ngàn điệu hát

Kẻ Đòi từ bao đời nay vẫn được người dân trìu mến gọi bằng cái tên “Xóm Hát”. Không ai còn nhớ chính xác thời điểm danh xưng này ra đời, chỉ biết rằng qua biết bao thế hệ, tiếng hát đã trở thành mạch nguồn sự sống của vùng quê này. Tại Kẻ Đòi, dường như mỗi nếp nhà đều có người thông thạo tuồng, say mê dân ca, thành thục nhạc cụ dân tộc hay tích cực tham gia các đội văn nghệ. Bởi lẽ đó, dân gian đã lưu truyền câu ca: “Đêm nằm nghe trống Kẻ Đòi/Nghe chuông Kẻ Hạc, nghe còi Kẻ Lau”.

Theo ông Hoàng Thanh Mai, nguyên Trưởng phòng Văn hóa huyện Bố Trạch (cũ), vùng đất này ẩn chứa nhiều di sản văn hóa đặc biệt. Ông Mai chia sẻ: “Người dân nơi đây lưu truyền rằng, vào thời Nguyễn Huệ hành quân ra Bắc, đoàn quân Tây Sơn từng dừng chân tại khu vực này. Có thể chính những binh sĩ có gốc gác từ quê hương Bình Định (xưa) đã mang nghệ thuật hát tuồng bội đến Kẻ Đòi. Qua thời gian, loại hình nghệ thuật đó được người dân tiếp nhận, gìn giữ và trở thành một phần không thể thiếu cho đến ngày nay”.

Thế hệ trẻ của Câu lạc bộ đàn và hát dân ca xã Đông Trạch đang nối tiếp truyền thống của quê hương - Ảnh: D.H
Thế hệ trẻ của Câu lạc bộ đàn và hát dân ca xã Đông Trạch đang kế thừa và phát huy giá trị truyền thống quê hương – Ảnh: D.H

Dù giả thiết này vẫn cần thêm tư liệu lịch sử để khẳng định, nhưng trong đời sống văn hóa của người dân Kẻ Đòi, hát tuồng bội đã thực sự trở thành căn cốt. Các bậc cao niên trong làng kể rằng, thuở xưa, mỗi dịp lễ hội hay những ngày nông nhàn, cả làng lại tề tựu bên sân đình thưởng thức hát. Tiếng trống chầu, tiếng đàn nhị, tiếng phách vang lên giữa màn đêm thôn quê tĩnh mịch. Người diễn thuộc lòng từng tích tuồng, từng động tác. Người xem ngấm từng lời hát.

Cụ Trần Minh Hộ (90 tuổi), một trong những bậc cao niên am tường sâu sắc về nghệ thuật hát tuồng bội Kẻ Đòi, chậm rãi kể lại rằng thời kỳ hưng thịnh nhất của làng hát là trước Cách mạng tháng Tám và những năm kháng chiến chống Mỹ. Dẫu bom đạn chiến tranh khốc liệt là thế, tiếng hát nơi xóm nhỏ chưa bao giờ tắt.

Cụ Hộ bồi hồi nhớ lại: “Ngày đó gian khó vô cùng nhưng ai cũng mê hát. Ban đêm, bà con dùng hai vỏ ống đạn làm chân đèn, thắp dầu để có ánh sáng cho diễn viên biểu diễn. Hễ nghe tiếng máy bay Mỹ là cả xóm lập tức tắt đèn, im lặng. Khi máy bay đi qua, đèn lại được thắp lên, sân tuồng lại rực sáng tiếng trống, tiếng hát…”.

Tiếng hát vượt qua chiến tranh

Trong ký ức của nhiều người, Xóm Hát còn là miền quê đong đầy nghĩa tình của những năm tháng chiến tranh khốc liệt. Những năm 1965, khi giặc Mỹ leo thang đánh phá miền Bắc, nhiều gia đình ở vùng biển Lý Hòa phải sơ tán lên Phú Trạch. Người dân Kẻ Đòi đã cưu mang, đùm bọc bà con như ruột thịt, chia sẻ từng củ sắn, lon gạo giữa thời bom đạn. Giữa những ngày khốn khó ấy, tiếng hát vẫn ngân vang hào sảng. Đó là những đêm bà con quây quần bên ngọn đèn dầu nghe đội văn nghệ cất lên câu dân ca. Là lời ru của những bà mẹ giữa vùng sơ tán. Là tiếng hát át tiếng bom đạn để con người giữ vững niềm tin vào sự sống.

Có người đến tận bây giờ vẫn nhớ như in câu hát của một người mẹ già ở Xóm Hát tiễn bà con trở về quê cũ sau những năm sơ tán: “Bạn về nhớ bạn chơi vơi/Nhớ chiếu bạn trải, nhớ nơi bạn nằm…”. Tiếng hát ở Kẻ Đòi vì thế không chỉ là nghệ thuật. Đó còn là tình người, là ký ức về một thời gian khó nhưng nghĩa tình sâu nặng.

Hôm nay trở lại Đông Duyệt 1, khó có thể nhận ra xóm nhỏ năm xưa. Những con đường đất hẹp đã được thay thế bằng đường bê tông rộng rãi. Nhà cửa khang trang mọc lên san sát. Diện mạo nông thôn mới đã làm vùng quê này thay đổi từng ngày. Nhưng điều đáng quý nhất là người dân nơi đây vẫn giữ được tình yêu son sắt với dân ca truyền thống, nên trong ánh mắt họ vẫn rạng ngời, dẫu đã đi qua nhiều khó khăn, bão gió. Có những gia đình nhiều đời theo nghiệp ca hát. Điển hình như gia đình cụ Nguyễn Duy Sung có đến 4 người con và một người cháu theo nghệ thuật chuyên nghiệp.

Từ một làng quê nhỏ, nhiều người con Kẻ Đòi đã bước lên sân khấu lớn, trở thành diễn viên, nghệ sĩ, cán bộ hoạt động văn hóa nghệ thuật. Nhưng dù đi đâu, họ vẫn mang theo chất giọng dân ca đậm đà hương vị quê nhà.

Ra đời từ những năm 90 thế kỷ trước, Câu lạc bộ (CLB) đàn và hát dân ca xã Đông Trạch vốn xuất thân từ xóm hát Kẻ Đòi. Trải qua bao biến chuyển của thời gian, vượt qua những gian khó, CLB vẫn bền bỉ tồn tại và phát triển mạnh mẽ cho đến hôm nay.

Bà Phạm Thị Hồng Phương, Chủ nhiệm CLB cho biết, CLB hiện có 29 thành viên, người cao tuổi nhất đã 92 tuổi nhưng vẫn tích cực tham gia sinh hoạt, biểu diễn. Nhiều năm qua, CLB không chỉ duy trì hoạt động thường xuyên mà còn trực tiếp tham gia truyền dạy đàn, hát dân ca cho học sinh trên địa bàn, góp mặt trong nhiều chương trình văn nghệ của địa phương. Bà Phương chia sẻ: “Điều đáng mừng là ngày càng có nhiều học sinh quan tâm đến dân ca, chủ động tham gia các CLB, được các nghệ nhân hướng dẫn trực tiếp. Từ đó, các em dần hình thành tình yêu với văn hóa quê hương, góp phần giữ cho di sản không bị đứt gãy trong quá trình truyền nối”.

Ai nhớ, ai quên?

Bà Phạm Thị Hồng Phương kể về những nghệ nhân hát tuồng một thời của Kẻ Đòi với ánh mắt đầy tiếc nuối. Trong ký ức của bà, cụ Phạm Hoạt vẫn là một trong những người “giữ hồn” cho Xóm Hát bằng tất cả sự tận tụy và trăn trở với nghề. Ngày ấy, cụ không ngồi chờ người trẻ tìm đến học hát mà lặng lẽ đi tìm người kế tục. Hễ nghe trong làng có ai giọng sáng, biết ngân nga dân ca hay chỉ đơn giản mê đứng xem hát tuồng, cụ lại tìm đến tận nhà để thuyết phục gia đình cho theo học.

Sau những buổi làm đồng, khi màn đêm buông xuống trên xóm nhỏ, cụ lại gọi đám trẻ tụ họp về sân nhà, kiên nhẫn chỉ từng câu hát, từng nhịp phách, từng cái vuốt râu, trợn mắt, đảo bộ trong tuồng cổ. Những bài học ngày ấy chẳng có giáo án, cũng không sân khấu sáng đèn, chỉ có tiếng trống nhịp đều trong đêm và sự say mê đến tận cùng của những con người yêu nghệ thuật.

Từ những buổi tập đơn sơ ấy, có người sau này trở thành diễn viên chuyên nghiệp, có người chỉ giữ tiếng hát cho hội làng mỗi mùa lễ hội. Nhưng với họ, ký ức về những đêm theo cụ Phạm Hoạt học hát vẫn là một phần không thể phai mờ trong cuộc đời mình. Bà Phương bảo, điều mà những nghệ nhân xưa lo lắng nhất không phải cuộc sống nghèo khó, mà là một ngày tiếng trống tuồng không còn vang lên ở Kẻ Đòi. Bà nghẹn giọng: “Các cụ thường nói, mất tiếng trống tuồng là xóm Hát mất hồn…”.

Rồi bà lặng đi một lúc lâu khi nhắc về những nghệ nhân cũ như cụ Phạm Hoạt, cụ Nguyễn Duy Sung… nay đều đã khuất núi. Bà Phương kể: “Thế hệ chúng tôi thực ra chỉ giữ được phần nào câu hát thôi. Còn những ngón nghề biểu diễn, thần thái, điệu bộ của tuồng cổ mà các cụ từng thể hiện thì không ai còn làm được như trước nữa”.

Nỗi day dứt ấy giờ vẫn hiện hữu trong mỗi đêm sinh hoạt văn nghệ ở Xóm Hát. Khi lớp nghệ nhân già lần lượt rời xa cõi tạm, người làng càng thấm thía rằng, giữ được một làn điệu dân ca đã khó, giữ được hồn cốt của tuồng bội còn khó hơn nhiều. Bởi vậy, với người Kẻ Đòi hôm nay, giữ gìn nghệ thuật truyền thống không chỉ là bảo tồn một loại hình văn hóa dân gian, mà còn là giữ lấy căn cước, bản sắc của quê hương.

                                     Diệu Hương

Chia sẻ:

Bài viết liên quan