Bài báo ghi lại hành trình của tác giả đến Cồn Cỏ qua nhiều thập kỷ, từ chuyến đi gian nan đầu tiên sau tái lập tỉnh đến những chuyến du lịch hiện đại, chứng kiến sự chuyển mình của hòn đảo từ "chiến hạm" tiền tiêu thành "viên ngọc" du lịch. Tác giả khắc họa những con người tâm huyết như anh Nam, một cựu quân nhân đã dốc sức phát triển tuyến tàu du lịch, và trải nghiệm cuộc sống "chậm", khám phá hệ sinh thái độc đáo cùng sự kiên cường của thảm thực vật nơi đây. Bài viết cũng gợi nhắc về những địa danh lịch sử oai hùng của Cồn Cỏ và đề xuất cần có hướng dẫn cụ thể hơn cho du khách về quá khứ chiến tranh. Dù ghi nhận những bước tiến trong phát triển hạ tầng hiện đại, tác giả vẫn băn khoăn về việc liệu Cồn Cỏ có giữ được tính nguyên sơ đặc thù để phát triển du lịch sinh thái bền vững, đồng thời kết thúc bằng hình ảnh yên bình về cuộc sống dân sự hóa trên đảo.
QTO – Tiết trời khi ấy đã nhuốm sắc thu, mùa “bà già đi biển” đã khép lại, ngoài khơi, từng đợt sóng bạc đầu nối nhau xô bờ. Dẫu vậy, chiếc thuyền gỗ với động cơ 33 mã lực vẫn vững vàng nhổ neo từ Cửa Tùng, hướng thẳng ra Cồn Cỏ. Sau hơn bốn giờ đồng hồ vật lộn cùng sóng gió, con thuyền cũng an toàn cập bến Nghè. Đó là chuyến hải trình đầu tiên của lãnh đạo Quảng Trị ra Cồn Cỏ, chỉ vài tháng sau khi tỉnh tái lập, và cũng là lần đầu tiên trong đời, tôi có duyên đặt chân đến hòn đảo huyền thoại này.
Tôi vẫn nhớ rõ, trên chuyến đi ấy, ngoại trừ những người làm nghề biển, tất cả mọi người đều vật vã với chứng say sóng suốt nhiều giờ liền. Thế nhưng, kỳ lạ thay, vừa đặt chân lên đảo, ai nấy đều trở nên tỉnh táo, hoạt bát lạ thường. Khát khao ôm lấy những người lính đảo, muốn khám phá từng ngóc ngách, lưu luyến thật lâu trên mỗi đỉnh đồi, bãi cát, ghềnh đá… những nơi đã đi vào huyền thoại trong sử vàng dân tộc và khắc sâu trong trái tim mỗi người con đất Việt.
Kể từ chuyến đi định mệnh ấy, tôi đã quay lại Cồn Cỏ hơn chục lần, vẫn với vai trò một phóng viên, chứng kiến vô vàn sự kiện, những bước chuyển mình quan trọng trong quá trình dân sự hóa. Hòn đảo từng là “chiến hạm bất khả xâm phạm” năm xưa nay đang dần hóa thành “viên ngọc” tiền tiêu, mở ra cánh cửa giao thương xuyên Á cho quê hương.
Lần này, đến với Cồn Cỏ, tôi trở thành một lữ khách tuổi xế chiều, hòa mình vào dòng người gần trăm du khách đến từ mọi miền đất nước. Dù đã có kinh nghiệm du hành trên các du thuyền cao cấp như Côn Đảo Express, Super Đông, khám phá từ Vũng Tàu đến Côn Đảo, từ Hà Tiên ra Phú Quốc hay len lỏi vào quần đảo Hải Tặc ở vùng biển Tây Nam, song chuyến tàu cao tốc Cửa Việt – Cồn Cỏ vẫn mang lại cho tôi những cảm xúc khó tả. Có lẽ, chính sự hiện đại của phương tiện, phong cách làm du lịch chuyên nghiệp và cảnh tượng du khách đa giọng Bắc, Trung, Nam cùng hiện diện trên mảnh đất quê hương đã khiến tôi bồi hồi nhớ về chuyến ra đảo đầu tiên trên chiếc thuyền gỗ 33 mã lực năm ấy…
![]() ![]() |
| Một góc Cồn Cỏ – Ảnh: Đ.N.H |
Trong chuyến đi này, tôi tình cờ tái ngộ Nam, một người lính Cồn Cỏ đích thực. Anh nhập ngũ từ năm 1992, đóng quân tại Cồn Cỏ, rồi dần trưởng thành, từ một thủy thủ lên vị trí thuyền trưởng, từ tàu gỗ sang tàu sắt, chuyên trách công tác tiếp tế và vận chuyển cán bộ ra đảo. Tình yêu Cồn Cỏ đã ăn sâu vào máu thịt người lính ấy đến độ, khi chính quyền khởi xướng mở tuyến du lịch Cồn Cỏ, nhiều nhà đầu tư đến rồi bỏ cuộc sau một thời gian hoạt động, nhưng Nam vẫn kiên định hướng gia đình tham gia. Ban đầu là liên kết, sau khi đối tác nản chí rút lui, Nam vẫn tìm mọi cách để bám trụ và phát triển.
Hiện nay, chiếc tàu Chín Nghĩa Quảng Trị của công ty gia đình anh, với sức chứa hơn 150 người, là phương tiện hiện đại nhất phục vụ tuyến du lịch Cồn Cỏ. Tình yêu sâu đậm dành cho Cồn Cỏ đã giúp Nam am hiểu tường tận từng bãi đá, từng loài cây, từng câu chuyện về hòn đảo này, từ những tháng năm chiến tranh ác liệt đến các công trình nghiên cứu về hệ sinh thái độc đáo. Gần 35 năm miệt mài gắn bó với những chuyến hải trình ra vào Cồn Cỏ, nếu có một cuộc bình chọn, Nam chắc chắn sẽ là người giữ kỷ lục quốc gia về số lần đặt chân lên hòn đảo này.
Cồn Cỏ hiện chưa có khách sạn quy mô lớn, nhưng hòn đảo có hệ thống nhà khách công vụ của các cơ quan và nhiều homestay tư nhân, đủ khả năng lưu trú cho vài trăm lượt khách. Tôi lựa chọn một homestay nằm biệt lập, gần bờ biển, do đôi vợ chồng trẻ Tuấn và Giang làm chủ, những người đã gắn bó với đảo gần 10 năm. Tuấn là thợ lặn chuyên nghiệp, còn Giang điều hành đa dạng các dịch vụ, từ homestay, nấu ăn cho khách, đến chế biến và kinh doanh hải sản tươi sống cùng các sản vật rừng đặc trưng của Cồn Cỏ.
Tại đây, lần đầu tiên tôi thực sự trải nghiệm lối sống “chậm” cùng Cồn Cỏ, và chợt nhận ra mình đang chiêm ngưỡng hòn đảo không còn qua lăng kính của một người lính tiền tiêu, mà bằng con mắt của một lãng tử. Thay vì tham quan cùng đoàn bằng xe điện, tôi thuê một chiếc xe máy. Sáng mờ sương, tôi leo lên hải đăng ngắm bình minh rạng rỡ. Trưa nắng gắt, len lỏi vào rừng khám phá hệ thực vật. Chiều mát, phóng xe dạo quanh đảo. Tối đến, ngồi bên ghềnh đá ngắm sóng vỗ. Và đêm khuya, cùng vợ chồng chủ nhà và vài anh em trên đảo nhóm lửa nướng cá chuồn cồ, cùng đủ loại ốc lớn nhỏ. Vừa nhâm nhi, vừa lắng nghe những câu chuyện về Cồn Cỏ, mắt dõi theo ánh đèn pha rực rỡ từ những ngư thuyền đang săn đuổi đàn cá cơm chỉ cách bờ đảo vài chục mét…
Tiếc thay, dù đã dành nhiều giờ đồng hồ lướt xe dọc ngang Cồn Cỏ dưới ánh nắng ban ngày, tôi vẫn chưa thể xác định liệu mình đã khám phá hết những địa danh từng lừng lẫy một thời hay chưa. Năm xưa, giữa mưa bom bão đạn, Cồn Cỏ đã ghi dấu những cái tên hào hùng: “Trận địa Hà Nội”, “Đồi Hải Phòng”, “Khu Hà Nam”, “Khu Hà Tây”, “Bãi Hương Giang”, “Bãi Hi Rôn” và còn vô vàn tên gọi khác chưa được nhắc đến. Mỗi cái tên quê hương ấy không chỉ là một địa danh, mà là một trận địa vô cùng khốc liệt, nơi mà những người lính Cồn Cỏ đã nhận được sự tiếp sức mạnh mẽ từ cả nước, cùng nhau viết nên chiến thắng vĩ đại!
Thật tuyệt vời biết bao nếu sơ đồ hướng dẫn tham quan đảo có thể ghi chú rõ ràng các địa danh hoặc dựng biển chỉ dẫn thực địa, kèm theo vài dòng giới thiệu về từng trận địa, để du khách có thể dễ dàng tiếp cận và cảm nhận sâu sắc hơn về một thời oanh liệt của “chiến hạm” Cồn Cỏ.
Không phải ngẫu nhiên mà người xưa đã đặt tên cho Cồn Cỏ là Thảo Phù. Từng bị bom đạn cày xới đến trọc trụi, không còn một bóng cây, vậy mà chất bazan màu mỡ của đất đảo đã giúp thảm thực vật hồi sinh với tốc độ kỳ diệu. Rừng xanh như một thứ “kem dưỡng” thần dược, xóa đi hàng trăm nghìn vết sẹo bom nham nhở trên gương mặt Cồn Cỏ. Đạp xe xuyên rừng, giữa tầng tầng lớp lớp cây cối rậm rạp, ta sẽ bắt gặp rất nhiều cổ thụ thân chẻ thành nhiều nhánh, cành lá sum suê đường bệ; những gốc già xù xì vẫn còn in hằn dấu bom vết đạn. Các “cụ” cây ấy, chẳng khác nào những người lính Cồn Cỏ lão thành, từng ưỡn ngực đón bao phong ba bão táp từ biển khơi, kiên cường đứng vững trước mưa bom bão đạn, mình đầy thương tích. Có “cụ” bị đạn pháo phạt tận gốc, có “cụ” bị bom quật bật gốc phơi rễ giữa nắng hè. Thế nhưng, mỗi gốc cây – một người lính Cồn Cỏ – vẫn âm thầm ứa nhựa, bám chặt vào đất, để rồi khi bom tạnh pháo ngừng, lại bật lên mầm mới, vươn mình thành cổ thụ, làm gương cho thế hệ mầm non rừng đảo hôm nay. Người ta vẫn nói, Cồn Cỏ không có nước mạch ngầm, mà chỉ có những túi trữ nước mặt nhờ thảm rừng dày đặc; bởi vậy, mất rừng là mất nước.
Tôi nhớ có lần ra Cồn Cỏ vào mùa khô hạn. Buổi sáng, lính đảo phải xếp hàng trước một cái xì-tẹc (citerne) để nhận suất nước rửa mặt, mỗi người chỉ một ca quân dụng nhỏ. Nguồn nước ấy chủ yếu được hứng từ trời mưa hoặc tiếp tế từ đất liền. Hồi đó, gần cổng chào bến thuyền hiện nay, có một cái giếng cổ hình chữ L, mà lính Cồn Cỏ quen gọi là “giếng Lờ”. Mùa hè, nước giếng rỉ rả, mang vị lơ lớ ngọt, nhưng lại là “bảo bối” quý giá của bộ đội trong những ngày nắng nóng. Ở Cồn Cỏ một thời, “giếng Lờ” cũng nổi tiếng không kém gì con cua đá vậy, với câu ca dao lưu truyền: “Cồn Cỏ có cái giếng Lờ/Bao chàng lính trẻ ngồi chờ nước ra”.
Giếng Lờ nay đã không còn, nhưng nó vẫn sống mãi trong ký ức không phai của những thế hệ người Cồn Cỏ một thời hy sinh. Ngày nay, với công nghệ hiện đại, nước sinh hoạt có thể được lọc từ nước biển. Tuy nhiên, đối với nguồn nước cho đất và rừng Cồn Cỏ, việc giữ gìn những túi trữ nước tự nhiên trong lòng đảo mới là giải pháp bền vững. Có lẽ, người dân Cồn Cỏ ý thức sâu sắc điều đó, nên ngay khi vừa đặt chân lên đảo, du khách đã có thể đọc thấy ba chữ “Cồn Cỏ Xanh” nổi bật ngay đầu âu cảng.
![]() ![]() |
| Du khách check-in trên đảo Cồn Cỏ – Ảnh: Đ.N.H |
Thế hệ trẻ ở Cồn Cỏ dường như thuộc lòng quá trình dân sự hóa của hòn đảo, đồng thời thấu hiểu ba không gian phát triển hiện hữu: đó là kinh tế biển, bao gồm du lịch và dịch vụ hậu cần nghề cá; đó là hệ sinh thái phong phú với thảm thực vật nguyên sinh, hệ san hô quý hiếm cùng đa dạng sinh học biển; và không thể thiếu là vị trí cứ điểm tiền tiêu về an ninh quốc phòng… Họ cũng nhận thức rõ rằng những lợi thế ấy tuy cực lớn, nhưng để khai thác chúng một cách hiệu quả lại là một thách thức vô cùng khó khăn!
Tôi nhớ cách đây 20 năm, một chuyên gia hàng đầu về quy hoạch du lịch biển của Cuba, ông Abelardo, đã đến Cồn Cỏ. Với 30 năm kinh nghiệm tại hàng chục quốc gia biển nhiệt đới, ông đã đưa ra quan điểm cốt lõi: cần giảm thiểu áp lực về mật độ dân cư và công trình xây dựng để bảo tồn tối đa chất nguyên sơ của đảo, chỉ khi đó mới có thể phát triển du lịch sinh thái đúng nghĩa. Tuy nhiên, khoản đầu tư ước tính khi ấy ít nhất phải gần 30 triệu USD. Đây thực sự là một thách thức vượt quá khả năng của một tỉnh còn nhiều khó khăn.
Người ta vẫn thường nói, lợi thế đặc biệt của Cồn Cỏ so với nhiều hòn đảo khác chính là tính nguyên sơ – nền tảng vững chắc để kiến tạo một mô hình du lịch sinh thái đặc thù, không cạnh tranh bằng số lượng khách mà bằng giá trị trải nghiệm độc đáo và khác biệt. Thế nhưng, khi đặt chân lên Cồn Cỏ lần này, tôi vẫn cảm thấy có chút gì đó phân vân, tiêng tiếc. Ấy là bởi tôi chứng kiến nhiều tuyến đường nhựa thênh thang, hiện đại, thậm chí có cả tuyến đôi với dải phân cách cứng quy mô nhiều làn xe con, xe tải tiêu chuẩn, chẳng khác nào trung tâm một đô thị đông đúc, nhộn nhịp trong đất liền. Câu chuyện về những ngôi nhà nhỏ nép mình dưới tán cây hay chênh vênh bên bờ đá, cùng những lối đi lát đá, lát sỏi dành cho xe đạp, xe thổ mộ hài hòa giữa thiên nhiên mà vị chuyên gia quy hoạch Cuba đã hình dung cùng tôi ngày ấy, có lẽ vẫn mãi chỉ là một ý tưởng mà thôi…
Tạm biệt Cồn Cỏ, tôi nhớ mãi hình ảnh bồn hoa hình đôi bàn tay chụm vào nâng niu khóm hoa đỏ rực rỡ bên con đường dẫn ra âu cảng. Tôi cũng say sưa ngắm nhìn một nhóm bé gái áo váy sặc sỡ, ríu rít đạp xe chạy quanh hồ nước trung tâm đảo, như đang dạo chơi giữa công viên, một cảm giác thanh bình đến lạ. Những hình ảnh ấy khiến tôi nhớ lại lần ra đảo viết bài báo với tựa đề “Nơi sinh: Cồn Cỏ”, kể về em bé đầu tiên chào đời trên đảo, như một biểu tượng của quá trình dân sự hóa trên hòn đảo tiền tiêu, nơi năm xưa chỉ một màu áo lính, được mệnh danh là “chiến hạm”, là “pháo đài”. Rồi tôi mơ hồ nghĩ, biết đâu trong nhóm đạp xe kia, có bé gọi nhân vật của tôi ngày ấy là mẹ cũng nên!
Hoa An












