Say đắm Khèn, Đàn Ta Lư: Thổi hồn âm nhạc dân tộc Việt

3

Nghệ nhân Hồ Văn Vát (Pả Hơi) tại thôn Ka Tăng, xã Lao Bảo, đã dành trọn cuộc đời để phục dựng và chế tác thành công khèn bè cùng đàn Ta lư, những nhạc cụ truyền thống mang "linh hồn" văn hóa của người Vân Kiều. Bằng sự tỉ mỉ phi thường từ việc chọn tre, gỗ già đến chế tác lưỡi gà bằng bạc hoặc đồng nguyên chất, ông đã tạo ra những nhạc cụ đạt chuẩn mực cao về cả hình thức và chất lượng âm thanh. Xuất phát từ niềm đam mê từ thuở ấu thơ và tự mày mò học hỏi, Pả Hơi không chỉ dừng lại ở việc bảo tồn mà còn đau đáu trăn trở về việc truyền dạy, tích cực lan tỏa tình yêu di sản cho thế hệ trẻ. Những cống hiến của ông không chỉ giúp gìn giữ bản sắc dân tộc mà còn truyền cảm hứng mạnh mẽ, được chính quyền địa phương ghi nhận và cam kết hỗ trợ để các giá trị văn hóa Vân Kiều mãi trường tồn.

QTO – Trong không gian nhà sàn mộc mạc tại thôn Ka Tăng, xã Lao Bảo, nghệ nhân Hồ Văn Vát, hay còn gọi là Pả Hơi (sinh năm 1970), vẫn miệt mài bên những ống tre, thanh gỗ, kiên tâm kiến tạo nên “linh hồn” văn hóa của người Vân Kiều. Bằng đôi bàn tay tài hoa và trái tim cháy bỏng nhiệt huyết, ông đã cống hiến trọn đời để phục dựng và chế tác khèn bè cùng đàn Ta lư – những nhạc cụ mang đậm bản sắc của đồng bào các dân tộc thiểu số nơi miền sơn cước hùng vĩ này.

Chạm khắc linh âm từ tre, gỗ mớc

Từ thuở ấu thơ, Pả Hơi đã bị cuốn hút sâu sắc bởi những thanh âm trầm bổng mê hoặc của khèn bè và nhịp điệu rộn ràng, cuốn hút của đàn Ta lư. Trong các dịp mừng lúa mới hay lễ hội cộng đồng ngày ấy, hình ảnh những nghệ nhân cao tuổi thổi khèn, gảy đàn đã khơi dậy trong ông một khát khao mãnh liệt. Tuy nhiên, việc chế tác hai loại nhạc cụ này đòi hỏi sự tỉ mỉ phi thường, tính kiên trì bền bỉ, đôi bàn tay khéo léo cùng khả năng cảm nhận âm thanh vô cùng tinh tế.

Cơ duyên đặc biệt đến với ông khi còn là một thanh niên. Trong những chuyến viếng thăm người thân tại nước bạn Lào, chứng kiến đồng bào Vân Kiều nơi đây vẫn duy trì nghề chế tác nhạc cụ truyền thống, ông đã tự bỏ tiền mua về để nghiên cứu chuyên sâu. Pả Hơi cẩn trọng tháo rời từng bộ phận, tỉ mẩn tìm hiểu cấu trúc lưỡi gà, cách bố trí ống tre và các phím đàn. “Sau nhiều năm tự mày mò, học hỏi và vượt qua không ít lần thử thách thất bại, cuối cùng tôi đã thành công chế tác những chiếc khèn, cây đàn đầu tiên đạt chuẩn mực cao về cả hình thức lẫn chất lượng âm thanh”, nghệ nhân Pả Hơi xúc động chia sẻ.

Nghệ nhân Pả Hơi chìm đắm trong giai điệu Ta lư, truyền tải tâm hồn núi rừng - Ảnh: K.S
Nghệ nhân Pả Hơi say sưa gửi gắm tâm tình qua nhịp đàn Ta lư – Ảnh: K.S

Để tạo tác một cây đàn Ta lư hay chiếc khèn bè đúng nghĩa, người nghệ nhân phải đầu tư vô vàn công sức và tâm huyết. Vật liệu làm khèn đòi hỏi phải là tre, nứa già dặn, lấy từ sâu trong rừng thẳm, được phơi nắng kỹ càng và hơ qua lửa để nắn thẳng tuyệt đối. Đối với đàn Ta lư, Pả Hơi ưu tiên chọn gỗ mớc hoặc gỗ mít lâu năm làm nguyên liệu chính. Gỗ sau khi khai thác sẽ được phơi khô từ một đến hai tháng nhằm đảm bảo độ bền vượt trội và tránh nứt nẻ. Cấu trúc đàn thoạt nhìn tựa đàn mandolin nhưng phần bầu đàn nhỏ gọn hơn, cần đàn dài và sở hữu từ 2 đến 4 dây. Dây đàn truyền thống thường được làm từ dây tơroa hoặc thép bền bỉ, càng sử dụng lâu càng trở nên săn chắc, mang đến âm thanh rộn rã, tươi vui và đầy sức sống.

Chia sẻ về bí quyết chọn gỗ, Pả Hơi nhấn mạnh: “Làm đàn Ta lư không cho phép sự vội vàng. Khâu chọn gỗ là tối quan trọng, phải là gỗ mớc hoặc mít thật già thì tiếng đàn mới đạt độ trầm ấm và không bị mối mọt. Khi đục đẽo thùng đàn, đôi tay mình phải cảm nhận tinh tế độ dày mỏng của thành gỗ; mỏng quá thì đàn dễ vỡ, dày quá thì tiếng đàn lại câm nín, không thể vang xa khắp núi rừng, con suối đâu”.

Riêng với khèn bè, sự tỉ mỉ được nâng lên bội phần. Khèn bè của người Vân Kiều, Pa Kô thường có cấu trúc gồm 14 ống tre được gắn kết khéo léo. Công đoạn thử thách nhất chính là chế tác lưỡi gà – bộ phận cốt lõi tạo nên âm thanh. Từng chiếc lưỡi gà được ông kỳ công tạo tác từ bạc cũ hoặc đồng nguyên chất, dát mỏng đến độ tối đa để tiếng khèn khi thổi ra đạt độ réo rắt, bay bổng, ngân vang.

“Cái ‘linh hồn’ của chiếc khèn nằm ở lưỡi gà. Tôi phải dùng bạc cũ hoặc đồng thật nguyên chất, dát mỏng tựa lá lúa non. Khi mài dũa phải cực kỳ khéo léo, chỉ cần sơ suất một chút là tiếng khèn sẽ bị phô chệch, mất đi sự hài hòa. Lúc lắp vào ống tre, mình còn phải dùng sáp ong rừng để gắn kết kín khít, có như vậy âm thanh mới hội tụ được cái hồn thiêng của núi rừng Trường Sơn”, Pả Hơi bật mí thêm.

Ưu tư di sản và khát vọng trao truyền

Trong căn nhà của nghệ nhân Pả Hơi, hàng chục sản phẩm do chính tay ông chế tác luôn được trưng bày trang trọng. Không chỉ dừng lại ở việc bảo tồn, ông còn bán cho những người có nhu cầu với mức giá từ 1,5-1,7 triệu đồng/sản phẩm, vừa để có thêm thu nhập trang trải cuộc sống, vừa duy trì ngọn lửa nghề. Tuy nhiên, điều khiến ông trăn trở và đau đáu nhất vẫn là việc tìm kiếm những người kế cận xứng đáng.

Chia sẻ nỗi niềm của mình, Pả Hơi trầm ngâm: “Đối với tôi, khèn bè và đàn Ta lư không chỉ là những nhạc cụ đơn thuần, mà chúng là linh hồn, là tiếng lòng từ thuở cha ông để lại. Nếu thế hệ già này mai một mà không có người tiếp nối, những thanh âm quý báu này sẽ dần bị lãng quên theo dòng chảy thời gian. Tôi luôn sẵn lòng truyền dạy cho bất cứ ai, đặc biệt là những người trẻ có tâm huyết. Chỉ mong thế hệ sau hiểu được giá trị vô giá của văn hóa dân tộc mình, biết cầm cây đàn, thổi tiếng khèn để bản sắc người Vân Kiều mãi mãi trường tồn, không bao giờ phai mờ”.

Nghệ nhân Pả Hơi (phải) tận tâm truyền dạy kỹ thuật sử dụng khèn bè cho lớp trẻ - Ảnh: K.S
Nghệ nhân Pả Hơi (bên phải) truyền dạy cách sử dụng khèn bè cho thế hệ trẻ – Ảnh: K.S

Anh Hồ Văn Hoan, Trưởng thôn Ka Tăng, một người trẻ năng động và đầy nhiệt huyết tại địa phương, bày tỏ: “Pả Hơi là một nghệ nhân kiệt xuất và hiếm có nơi vùng biên này. Sự kiên trì bền bỉ và tài hoa của ông đã truyền cảm hứng mạnh mẽ cho toàn thể thanh niên trong thôn. Trong bối cảnh nhiều bạn trẻ đang mải mê với các loại nhạc hiện đại, hình ảnh Pả Hơi tỉ mẩn bên cây đàn Ta lư đã nhắc nhở chúng tôi về trách nhiệm cao cả trong việc gìn giữ cội nguồn. Chúng tôi đang tích cực vận động đoàn viên, thanh niên tham gia các buổi sinh hoạt văn nghệ để được ông trực tiếp hướng dẫn kỹ thuật sử dụng các nhạc cụ truyền thống”.

Vang vọng di sản, tiếp nối sức sống nơi miền biên viễn

Không chỉ giới hạn trong không gian sáng tạo tại bản làng, những năm qua, nghệ nhân Hồ Văn Vát đã tích cực tham gia biểu diễn và truyền dạy trong nhiều chương trình, dự án nghiên cứu, phục hồi, bảo tồn và phát huy các nhạc cụ truyền thống của người Vân Kiều tại vùng đồng bào dân tộc thiểu số phía Tây Nam Quảng Trị. Sự hiện diện và đóng góp của ông trong các dự án này đã góp phần quan trọng vào việc hệ thống hóa và hồi sinh những giá trị văn hóa đang đứng trước nguy cơ mai một.

Với trái tim đau đáu nặng lòng cùng di sản, nghệ nhân Hồ Văn Vát đã dành trọn tâm huyết nghiên cứu, chế tác thành công khèn bè và đàn Ta lư truyền thống. Không chỉ kiệt xuất trong kỹ nghệ, ông còn là một nhịp cầu văn hóa quan trọng, tích cực truyền dạy và lan tỏa tình yêu di sản Vân Kiều cho thế hệ trẻ nơi vùng biên viễn tỉnh Quảng Trị.

Bà Nguyễn Thị Thanh Nga, Phó Chủ tịch UBND xã Lao Bảo, khẳng định: “UBND xã luôn xác định việc bảo tồn bản sắc văn hóa dân tộc, trong đó có khèn bè và đàn Ta lư, là một nhiệm vụ trọng tâm hàng đầu. Những nghệ nhân như Pả Hơi chính là những “báu vật nhân văn sống” vô giá của địa phương. Thời gian tới, chúng tôi sẽ tiếp tục phối hợp mở rộng các lớp truyền dạy, tạo không gian biểu diễn thường xuyên trong các lễ hội để tôn vinh và phát huy mạnh mẽ giá trị văn hóa truyền thống. Đồng thời, xã sẽ có những hình thức biểu dương, hỗ trợ kịp thời cho các nghệ nhân tâm huyết để họ vững tâm gắn bó và trao truyền nghề cho thế hệ mai sau”.

Tiếng đàn Ta lư, tiếng khèn bè của nghệ nhân Pả Hơi vẫn đều đặn vang vọng giữa bản làng Ka Tăng. Những âm thanh ấy như một nhịp cầu thiêng liêng nối liền quá khứ và hiện tại, khẳng định sức sống bền bỉ, mãnh liệt của văn hóa dân tộc Vân Kiều nơi biên thùy. Khi còn những con người đau đáu gìn giữ di sản như ông, bản sắc núi rừng sẽ mãi ngân vang, trường tồn cùng năm tháng.

Kô Kăn Sương